TUYỂN TẬP VĂN CHƯƠNG NHI ĐỒNG
 
QUYỂN NĂM   Phần 5c ( Tiếp Theo)

 
THẦN THOẠI
THẦN THOẠI HY-LẠP


 
DOÃN QUỐC SỸ
 
Sưu tập



PHAETHON VÀ NGỰA CỦA THẦN MẶT TRỜI.
Cậu Phaethon giận sôi lên. Các bạn chọc cậu hoài khi nghe cậu tự khoe là con Mặt Trời. Nhưng đó là sự thực mà ! Mẹ cậu, nữ hải tinh Clymene, đã nói với cậu bao lần như vậy. Bà thường chỉ vào Mặt Trời đang chiếu sáng mà bảo cậu : “Cha con đó, người cha lẫy lừng của con đó. Nhìn xem cha con lái chiếc xe ngựa khéo léo làm sao !”
Giờ đây mặt Phaethon đỏ bừng vì hổ thẹn và tức giận. Cậu đứng trước bà mẹ van xin : “Thưa mẹ, nếu quả con là con Mặt Trời, xin mẹ cho con bằng chứng !”
Bà Clymene trả lời : “Mẹ biết lấy bằng chứng nào cho con bây giờ. Rồi bà giơ tay lên trời nghiêm trang nói : “Mẹ xin Mặt Trời đang nhìn xuống chúng ta đây làm chứng cho mẹ. Nếu mẹ nói sai, thì đây là lần cuối mẹ nhìn thấy ánh sáng mặt trời ! Nhưng sao con không đi hỏi thẳng cha con? Phần đất nơi Mặt Trời mọc rất gần đây. Con nên đi hỏi Apollo xem có đúng con là con trai của Người không ?” Mặt Phaethon sáng lên. Cậu lên đường đi ngay tới Ấn-Độ và chả bao lâu, cậu đứng trước toà lâu đài rực rỡ của Mặt Trời.
Tim cậu đập mạnh vì kiêu hãnh, cậu hy vọng và ngạc nhiên khi ngắm nhìn hàng cột cao vút, những phiến đá quý chiếu lấp lánh, trần nhà bằng ngà voi đánh bóng, cửa toàn bằng bạc. Nhưng cậu không thể dừng lại lâu hơn nữa để ngắm nhìn cảnh trời, đất, biển cả mà Hephaestus đã khéo léo đúc luyện thành hình nổi trên tường. Cậu sốt ruột quá rồi. Cậu chạy như bay lên bậc thềm vào một phòng rộng. Tới đó cậu buộc lòng phải ngừng vì ánh sáng chói loà quá. Ở cuối phòng cậu nhìn ra một vị thần, mặc áo đỏ, ngồi trên ngai bằng kim cương lấp lánh. Hai bên có quần thần đứng chầu. Đó là những thần Ngày, Tháng, Năm, Giờ, và Mùa. Thần Mùa Xuân kết hoa trên đầu, thần Mùa Hạ phục sức bằng những bông lúa vàng, thần Mùa Thu mình tưới rượu nho, còn thần Mùa Đông có những lọn tóc trắng như tuyết.
Vị thần nhìn thấy cậu bé đứng ở cửa mới hỏi to : “Ai đem nhà ngươi tới đây ?” Cậu bé bật trả lời:
“Hỡi ánh sáng của thế giới vô bờ, kính thưa ngài Phoebus, cha thân yêu của con, con là Phaethon, con van xin cha hãy cho con bằng chứng để mọi người phải công nhận rằng con đích thực là con của cha.”
Thần Apollo bấy giờ mới bỏ những tia sáng chói lòa ở trên đầu xuống. Rồi ngài nói : “Hãy lại gần đây con yêu dấu của ta”. Rồi ngài ôm ghì lấy Phaethon và tiếp : “Cha xác nhận điều mẹ con đã nói với con. Để chấm dứt mọi nghi ngờ trong lòng con, cha xin thề bên dòng sông Styx – nơi các chư thần vẫn thề – là cha sẽ ban cho con bất cứ điều gì con muốn.”
Nghe vậy Phaethon vội xin : “Vậy con xin cha hãy cho con lái chiếc xe mặt trời của cha trong một ngày thôi.”
Thần Phoebus Apollo giật mình lắc đầu bốn lần vì lời yêu cầu của con. Rồi thần nói bằng một giọng đầy hối hận : “Cha đã nói lỡ, cha đành phải từ chối lời yêu cầu này của con. Hãy chọn điều khác ! Điều con vừa yêu cầu không thích hợp với tuổi và sức khoẻ của con đâu. Không một ai, kể cả thần Zeus đuổi được sấm chớp, lái được chiếc xe ngút lửa này ngoại trừ cha, và ngay cả cha cũng phải cố gắng hết mình. Đường đi lúc khởi hành dốc đến nỗi ngựa khó khăn lắm mới trèo lên được, ấy là lúc đó ngựa còn rất khoẻ. Đi được nửa đường, thì xe ở quá cao đến nỗi cha đứng thẳng trên xe mà cũng thấy chóng mặt không dám nhìn xuống mặt đất. Còn đoạn đường chót thì lại dốc xuống quá đến nỗi các hải thần đón cha về cứ băn khoăn không hiểu làm sao mà cha giữ được khỏi ngã. Nếu cha cho con mượn cỗ xe, làm sao con cầm nổi cương ngựa mà đi được ? Con lầm tưởng rằng con sẽ được đi qua nơi chư thần ở. Không đâu, trái lại con sẽ gặp toàn những ác quỷ kinh dị : Con Bò mộng, con Sư tử, con Bọ cạp, và con Cua càng… Thôi con nhé. Con đòi cha cho bằng chứng con là quý tử của cha, vậy nỗi lo âu của cha đây không phải là bằng chứng xác đáng sao ? Cha phải giữ lời thề nhưng cha xin con hãy lựa chọn khôn ngoan hơn ! Hãy nhìn quanh toàn thế giới này và hãy lựa cái gì quý giá nhất, cha chỉ khuyên con đừng đòi lái xe mặt trời.”
Phaethon lắng nghe, nhưng cậu cương quyết không thay đổi lời yêu cầu. Và thần Apollo đành dẫn cậu tới chỗ để cỗ xe. Cỗ xe này cũng là công trình của thần Hephaestus, một công trình tuyệt xảo. Trục xe và bánh xe toàn bằng vàng, nan hoa xe bằng bạc, chỗ ngồi lấp lánh ánh lục thạch và kim cương. Nhưng cậu không còn thì giờ ngắm cỗ xe lộng lẫy nữa vì Bình Minh đã mở rộng cánh cửa phương Đông. Các vì sao mờ đi và quả đất bắt đầu sáng. Mặt Trăng ra lệnh đóng yên cương ngựa và thần Giờ thả những con vật bốn cánh ra khỏi chuồng. Thần Phoebus lấy lọ thuốc ra, tự tay thoa thuốc lên mặt Phaethon rồi đặt những tia nắng lên đầu cậu. Ngài dặn :
“Con không cần dùng roi nhiều. Ngựa chạy nhanh lắm. Hãy cầm cương cho chắc. Hãy theo dấu xe, đừng lên cao quá kẻo con sẽ đốt cháy nhà cửa của chư thần, cũng đừng xuống thấp qua e rằng trái đất phát hỏa. Cha đành phó mặc con cho số phận. Hãy cầm cương đi, không thể chậm trễ được nữa.”
Phaethon lắp bắp cám ơn cha rồi nhảy phắt lên xe và nắm lấy dây cương. Chà, giá mà các bạn cậu thấy được cậu lúc này nhỉ !
Trong khoảnh khắc, cánh đồng bằng vô tận trải dài trước mắt cậu. Đoàn ngựa dũng mãnh lướt qua mây, nhanh hơn gió bình minh. Nhưng chẳng bao lâu, chúng cảm thấy bàn tay lạ cầm cương, thế là chúng hí lên và cứ thế đâm thẳng phía trước, bỏ cả lộ trình ấn định. Cỗ xe lắc lư, nhồi lên nhồi xuống. Phaethon nhìn xuống đất mặt tái lại, hai chân run lên, đầu choáng váng, mắt mờ đi. Biết vậy nghe lời cha không đòi cưỡi xe. Nhưng bây giờ thì cậu không thể lựa chọn lại được nữa. Cậu phải tiếp tục, đành như con thuyền trôi nổi trong cơn bão táp.
Cậu mở mắt sợ hãi nhìn quanh. Cậu muốn gọi ngựa nhưng cậu lỡ quên tên chúng. Tim cậu đập như trống làng, cậu cố nghĩ phải làm gì. Không biết cậu nên cầm chặt dây cương hay nới lỏng ra. Cậu còn đang lưỡng lự thì dây cương tuột khỏi tay. Đám ngựa xổng cương cứ thế chạy như bay lên vùng xa lạ trên trời rồi chạy tuột xuống gần tới mặt đất. Mây bốc khói, các ngọn núi bốc lửa, đồng ruộng cháy xém. Toàn thế giới phát hỏa.
Nhìn lửa bốc lên, cậu thấy nóng không chịu nổi. Cậu thở như thở trong lò lửa. Nước biển cạn cá phải lặn xuống đáy.
Sau cùng trái đất không chịu nổi nóng mới kêu cầu thần Zeus : “Kính lạy vị thần chúa tể của chư thần hãy cứu chúng tôi khỏi ngọn lửa ác nghiệt !” Nghe xong thần Zeus mới lên tháp cao cho nổi sấm chớp, thần ném một tia chớp vào Phaethon làm cậu ngã nhào đâm thẳng xuống đất như một ngôi sao đổi ngôi, tóc bốc lửa… Và xa xa dưới đất dòng sông Eridanus đón nhận thân thể gãy vụn và đen như than của cậu.

VỢ THẦN PLUTO
Ở sâu dưới lòng ngọn núi Aetna, các thần đã chôn sống một số người khổng lồ khạc ra lửa. Đám người này cố vùng vẫy để thoát thân. Họ vùng vẫy mạnh đến nỗi đất rung chuyển và thần Pluto, vua trị vì cõi âm, phải kinh hoảng. Thần nghĩ : “Họ có thể xẻ đôi ngọn núi và để lộ cõi âm ra ánh sáng mặt trời.” Rồi thần cỡi cỗ xe ngựa vàng lên khỏi mặt đất xem có hư hao gì không?
Vị nữ thần Tình Yêu và Mỹ Lệ, tức nữ thần Aphrodite đang ngồi trên sườn núi chơi với cậu con trai Eros, nhìn thấy Pluto cỡi xe mải miết đi vòng quanh.
Nữ thần bèn bảo con : “Này con, kẻ kia thách thức mẹ con ta đấy. Lẹ lên con, hãy giương cung và bắn một mũi tên vào giữa ngực tên Hắc vương đó. Mẹ con ta phải cho hắn nếm mùi vị yêu đương.
Nghe lời mẹ, cậu Eros đứng thẳng dậy, lựa một mũi tên nhọn nhất và chính xác nhất lắp vào cung rồi bắn thẳng vào tim thần Pluto.
Thần Pluto đã gặp nhiều thiếu nữ đẹp ở cõi âm. Nhưng tim thần chưa hề rung động. Giờ đây tự nhiên một luồng hơi ấm lan trong huyết quản. Đôi mắt lạnh lùng của thần dịu lại. Trước mặt thần là một thung lũng nở đầy hoa, và kìa một nàng con gái đang hái hoa. Nàng tên là Persephone, con gái của Demeter nữ thần Mùa Màng. Nàng vừa lạc khỏi đám bạn, giỏ của nàng đầy hoa, nàng mải xếp những bông hoa tím vào vạt áo. Thần Pluto ngắm thiếu nữ và cảm thấy yêu nàng ngay. Thần bèn giơ tay ra cắp lấy nàng và lái xe đi nhanh. Nàng Persephone kêu thét lên : “Mẹ ! Mẹ !” Hoa ở vạt áo nàng rơi lả tả xuống đất. Rồi nàng gọi tên từng người bạn. Nhưng thần Pluto đi nhanh quá nên không ai nghe được tiếng nàng. Phút chốc xe tới dòng sông Cyane. Nàng Persephone cố vùng vẫy, dây lưng của nàng tuột ra rơi xuống đất. Tới đây thần Pluto cầm cây đinh ba đập mạnh xuống bờ sông. Mặt đất nẻ ra, thế là cả người và ngựa đi xuống lòng đất.
Nữ thần Demeter tìm con gái khắp nơi mà không thấy. Sau cùng quá mệt mỏi và thất vọng thần quay về Sicily, và đứng bên dòng sông Cyane, đúng chỗ thần Pluto xẻ đất để xuống cõi âm. Một nữ thủy thần đã nhìn thấy thần Pluto cùng nàng Persephone muốn mách nữ thần Demeter nhưng lại sợ nên đành câm nín. Trước đây nàng đã nhặt được sợi dây lưng của Persephone bèn gửi sóng đưa đẩy tới chân nữ thần Demeter. Bấy giờ nữ thần mới chắc là con gái mình đã mất tích thực, nhưng vẫn không ngờ là thần Pluto đánh cắp con. Chẳng biết sao nữa thần lại giận mặt đất vô tội. Nữ thần nói : “Hỡi đất vô ơn ! Ta làm cho ngươi phì nhiêu, ta may áo bằng cỏ và hạt ngũ cốc cho ngươi, vậy mà giờ đây ngươi đối xử với ta như vậy đó – ngươi đừng hòng ta ban ơn cho nữa !”
Năm đó thật là một năm kinh khoàng. Cây cối không đâm chồi nảy lộc, súc vật chết, hạt giống không nảy mầm, người và trâu bò làm việc vô hiệu. Khi nắng thì nắng gắt, khi mưa thì mưa dầm. Chỉ có cỏ may và cỏ lau là mọc nổi. Loài người cơ hồ sắp chết đói đến nơi. Thần Zeus trên thiên đình nói : “Tình thế này không thể kéo dài được, ta phải can thiệp vậy.” Rồi thần Zeus sai từng vị thần xuống thuyết phục nữ thần Demeter nhưng nữ thần một mực trả lời : “Chỉ khi nào ta tìm thấy con gái ta thì đất mới lại sinh hoa lợi được.”
Dĩ nhiên là thần Zeus biết nàng Persephone ở đâu. Thần không muốn lấy lại bảo vật đã về tay em thần, nhưng giờ đây chắc thần phải làm vậy để cứu loài người. Nghĩ đoạn Ngài bèn cho vời thần Hermes và truyền : “Hãy xuống cõi âm bảo Pluto thả nàng Persephone ra. Nếu nàng chưa ăn gì dưới đó, nàng có thể trở về với mẹ nàng mãi mãi.”
Thần Hermes tuân lệnh bay xuống lòng đất và thấy ngay nàng Persephone ngồi bên Hades (Pluto) trong cung điện mờ tối. Trong nàng xanh xao và buồn bã. Tất cả vàng bạc châu báu cũng không khiến nàng nở được nụ cười. Nàng thường nói với chồng khi thần Pluto đeo đồ trang sức cho nàng : “Ở đây không có hoa. Nữ trang không có mùi thơm nên em không thích.”
Khi nàng thấy thần Hermes và nghe Zeus truyền lệnh xuống, tim nàng đập rộn ràng sung sướng. Má nàng hồng lên, mắt sáng long lanh vì nàng thừa biết rằng thần Pluto không dám cưỡng lệnh anh. Chỉ duy một điều khiến nàng bận tâm, là nàng không thể rời cõi âm này mãi mãi vì nàng đã trót ngậm bốn hạt lựu Pluto trao cho nàng. Thần Pluto âm thầm sắp xếp cỗ xe. Thần đỡ nàng Persephone vào ngồi trong xe rồi ngậm ngùi dặn dò : “Xin nàng hãy nghĩ tới ta, ta yêu quý nàng hết lòng. Tám tháng xa nàng thật buồn tẻ. Nếu nàng chê toà lâu đài của ta tối tăm, thì ít nhất cũng xin nàng nhớ rằng chồng nàng là một vị thần có uy quyền lớn. Thôi tạm biệt nàng, chúc nàng hái được thật nhiều hoa !”
Rồi thần Hermes lái đoàn hắc mã thẳng tiến tới nữ thần Demeter ở Eleusis. Nữ thần nghe tiếng xe, và khi thấy con gái chạy trên đồi, nữ thần chạy vội ra đón con gái. Nàng Persephone ôm choàng lấy mẹ. Mẹ con mừng mừng tủi tủi kể cho nhau nghe mọi sự.
Cứ thế kể từ đó, hằng năm Persephone trở về ở bốn tháng với thần Pluto – vì nàng đã ăn bốn hạt lựu. Trong thời gian đó, trên trái đất tạo vật héo tàn, cây trụi lá. Sang Xuân, nàng Persephone trở về, hoa nở khắp nơi. Rồi tới Hạ bông kết trái, sang Thu là mùa gặt hái.

ECHO VA NARCISSUS
Trong tất cả các nữ sơn thần, nàng Echo đẹp nhất. Nàng chỉ có một lỗi : nói nhiều quá. Nàng nói suốt ngày, và bất cứ vấn đề gì Echo cũng là người nói tiếng sau cùng.
Một hôm, khi thần Zeus đang vui đùa cùng các nữ sơn thần. Nữ thần Hera đột nhiên xuất hiện. Tất cả đều vội vã tản đi trừ nàng Echo. Nàng Echo bắt đầu trổ tài nói chuyện. Nữ thần Hera mải nghe chuyện nàng đến nỗi các nữ sơn thần đủ thì giờ trốn thoát. Nhưng rồi Hera cũng biết là đã bị lừa bèn tức giận bảo Echo: “Mi đừng hòng tái diễn trò đó, cái lưỡi có duyên của mi sẽ hết quyền lực. Từ giờ trở đi, mi không khua môi múa mỏ được nữa mà chỉ làm một việc là trả lời, chỉ trả lời thôi, không bao giờ mi được nó trước.
Chẳng bao lâu, Echo cảm thấy hình phạt đó thật là khổ ải. Nàng yêu một người thợ săn nhưng người này chẳng yêu ai mà chỉ yêu chính mình, đó là chàng Narcissus thật đẹp trai nhưng cũng thật lạnh lùng.
Nàng Echo đáng thương cứ theo Narcissus đèo đẽo khắp các ngọn núi. Nàng ước mong sao nói được với chàng những lời dịu ngọt để chiếm đoạt tình yêu. Nhưng nàng đâu còn nói được như trước.
Rồi một hôm Narcissus đang đi săn thì lạc bạn, chàng kêu to lên:
“Ai đây !”
“Ai đây !” Echo trả lời.
Narcissus nhìn quanh nhưng chẳng thấy ai, chàng lại gọi :
“Tới đây !”
“Tới đây !” Echo lập tức trả lời. Narcissus chờ mãi chẳng thấy ai chàng lại gọi :
“Sao cứ ở xa tôi vậy ?”
“Ở xa tôi vậy ?” Nàng Echo gọi lại. Narcissus mừng rỡ nói :
“Chúng ta gặp nhau đi !”
“Chúng ta gặp nhau đi !” Nàng Echo vui vẻ chấp thuận. Nàng chạy tới giơ hai tay ra sẵn sàng ôm choàng lấy cổ Narcissus. Chàng vội lùi lại la to : “Đừng đụng đến tôi ! Tôi thà chết còn hơn để nàng ở bên tôi !”
Echo xin : “Ở bên tôi !”
Nhưng vô hiệu, chàng trai trẻ vội vã ra đi để mặc nàng sơn thần với nỗi tủi hổ trong rừng rậm.
Từ đó trở đi nàng Echo không bao giờ lộ diện nữa. Những hang hốc và triền đá là nhà của nàng. Thân thể nàng hao mòn đi vì buồn phiền và mong đợi cho tới một ngày thịt nàng tiêu hao hết, xương nàng trở thành đá. Nàng chẳng còn gì trừ tiếng nói và nàng vẫn trả lời bất cứ tiếng gọi của ai.
Chàng Narcissus thật độc ác! Echo không phải là người duy nhất thất tình với chàng. Nhưng rồi chàng đã bị báo oán: một kiều nữ bị chàng khinh rẻ đã cầu xin nữ thần Trả Thù ra tay. Cô gái cầu nguyện: “Cầu cho chàng Narcissus có ngày biết yêu mà không được yêu lại!”.
Và nữ thần Trả Thù đã nghe…
Có một dòng suối trong vắt trên đồi không biết vì lý do gì mà những người chăn cừu không bao giờ dắt cừu tới uống. Những con sơn dương và những giống thú khác cũng không tới đó uống nước bao giờ.
Cỏ xanh mọc khắp xung quanh những tảng đá che lấp dòng suối khỏi ánh mặt trời. Nước suối trong sáng như bạc được đánh bóng. Không một cành cây mục, một lá khô nào làm dơ nước suối.
Một hôm, Narcissus tới dòng suối này. Vừa nóng, vừa khát và mệt mỏi vì cuộc săn, chàng cúi xuống uống nước và chàng nhìn thấy cái bóng đáng yêu của chàng. Chàng nghĩ : “Đây là vị thần của dòng nước này chắc”. Vì chưa bao giờ chàng nhìn thấy bóng mình, nên lần này như bị mê hoặc, chàng quỳ xuống ngắm mãi. Chàng cuối gập xuống hôn cái bóng và dang tay ôm lấy hình ảnh đáng yêu đó. Chàng vừa đụng tới mặt nước thì bóng chàng tan đi thành hàng ngàn nếp nhăn. Nhưng rồi hình ảnh chàng lại nguyên vẹn. Chàng thốt : “Đẹp tuyệt! Tại sao mi lại trốn ta. Chắc rằng mặt ta không làm mi thất vọng vì tất cả các sơn thần ở đây đều yêu ta, và xem như chính mi cũng không lãnh đạm gì với ta. Mi đã mỉm cười đáp lại ta và khi ta giơ tay ra ôm mi, mi cũng làm y như vậy”.
Những giọt nước mắt chờ mong chảy dài xuống má chàng rồi rỏ xuống nước. Tức thì bóng chàng biến mất. Chàng van xin: “Xin hãy ở lại! Xin hãy ở lại! Nếu ta không đụng tới người, xin hãy để ta ngắm ngươi!”.
Và cứ thế chàng không dứt ra được. Hết ngày này qua ngày kia, chàng cúi khom lưng để ngắm bóng mình. Chàng vẫn thường coi rẻ tình yêu thì giờ đây chàng đã bị tình yêu hủy hoại. Người chàng trắng như sáp. Chàng chỉ biết thở dài kêu “Hỡi ơi! Hỡi ơi!” và nàng Eco đáp lời chàng: “Hỡi ơi!”.
Cuối cùng chàng Narcissus tan biến đi, hồn chàng vẫn được đem xuống cõi âm. Hồn đó nhìn xuống dòng sông Styx để ngắm hình ảnh mình một lần chót. Những nữ sơn thần đã từng say mê chàng chất củi lên, làm dàn hoả thiêu và cùng tống táng chàng theo tục lệ. Chàng không để lại dấu vết gì, duy có một bông hoa trắng như xáp, nhị hoa màu đỏ sậm mọc ngay ở chỗ trước kia chàng vẫn quỳ mà thở dài. Các nữ sơn thần bèn đặt tên bông hoa này là Narcissus.

ORPHEUS VÀ EURYDICE
Ở kinh thànhg Thrace có một chàng thi sĩ và cũng là một ca sĩ giỏi tên Orpheus. Cha chàng chính là thần Apollo cho chàng cây đàn và dạy chàng chơi đàn. Tiếng đàn của chàng đã mê hoặc được mọi người, mọi vật. Khi chàng dạo vài khúc, những con thú dữ quây quần quanh chàng và trở nên hiền lành dễ bảo, cây cối bảo nhau theo sau chàng, đá trên sườn đồi chuyển động, và sông cũng đổi dòng để được nghe tiếng đàn của chàng.
Nhiều thiếu nữ yêu Orpheus lắm nhưng chàng chỉ yêu một người thôi, đó là nàng Eurydice. Và họ lấy nhau. Nhưng thật không may, khi cô dâu đang tung tăng với các cô phù dâu trên bãi cỏ thì một con rắn độc cắn vào mắc cá chân khiến nàng gục chết tức khắc.
Chàng Orpheus buồn rầu khôn tả. Chàng khóc suốt ngày đêm. Cuối cùng chàng quyết định làm một việc không một ai dám làm: chàng xuống cõi âm để xin thần Pluto phục sinh Eurydice. Chàng biết một hang sâu dẫn xuống lòng đất. Chàng theo đường đó xuống tới dòng sông Styx, nói với thần chở đò: “Hãy chở tôi qua sông!”.
Thần Charon trả lời:
“Không được, thuyền tôi chỉ chở các hồn. Ông nặng quá tôi chở sao nổi?”
Chàng Orpheus bèn gảy đàn, thế là Charon chịu chở ngay. Con chó ba đầu Cerberus gác lối vào cõi âm không cho chàng đi, nhưng khi nghe tiếng đàn của chàng, nó thuận tình nhượng bộ. Thế là chàng thi sĩ đặt chân vào cõi âm, chàng lướt qua biết bao âm hồn và cuối cùng tới được ngai vàng của thần Pluto và nàng Persephone. Chàng cúi rạp xuống chào Vua và Hoàng Hậu rồi vừa gảy đàn vừa ca rằng:
“Tâu Ngài, tôi không xuống đây để do thám đất Ngài. Tôi chỉ tới đây tìm vợ tôi. Nàng đã chết vì bị rắn độc cắn. Tôi đã cố nén sầu mà không được. Chính thần Tình Yêu Eros đã dẫn tôi tới đây. Thần Tình Yêu rất quen thuộc với chúng tôi trên mặt đất, và tôi nghĩ thần đó cũng không xa lạ gì ở nơi đây, bởi chính Ngài và Nữ hoàng cũng được kết hợp với nhau bở thần Tình Yêu. Vậy tôi xin Ngài hãy hoàn lại đời sống cho Eurydice. Đám người phàm tục chúng tôi cuối cùng đều phải xuống đất Ngài. Nơi đây sẽ là chốn ở cuối cùng của chúng tôi. Ngài thống trị loài người lâu nhất. Vợ tôi sẽ trở về đây đúng lúc. Nhưng bây giờ tôi van xin Ngài trả lại nàng cho tôi. Nếu Ngài chối từ, xin Ngài giữ tôi ở đây luôn. Tôi không muốn trở về một mình.”
Chàng ca nhạc êm với lời ca cảm động vang khắp dãy hành lang lạnh lẽo. Các âm hồn nghe đều ứa lệ. Các dụng cụ tra tấn ngưng hoạt động và lần đầu tiên các hung thần nhỏ lệ.
Đôi mắt đẹp của Persephone rưng rưng và ngay cả Pluto cũng mềm lòng và những giọt nước mắt cũng chảy dài trên má thần. Rồi thần phán: “Cho vời Eurydice tới!”. Tên nàng vang đi qua các hành lang câm nín. Dưới cùng thẳm, nơi những hồn mới tới tụ họp, nàng Eurydice nghe thấy tiếng gọi và nàng tới. Trông nàng xanh xao. Nàng bước đi chậm vì chân đau. Rồi nàng đứng buồn bã trước ngai vua Pluto, chưa hiểu vì sao mà được vời tới. Nhưng khi nhìn thấy Orpheus, mắt nàng bừng lên vì sung sướng. Thần Pluto phán: “Orpheus, hãy đem nàng đi, nhưng nên nhớ kỹ, đừng quay lại nhìn phía sau cho tới khi lên tới mặt đất.”
Chàng Orpheus đi trước. Chàng bước trên con đường dốc, hẹp và tối tăm. Nàng Eurydice bước khập khiễng theo sau. Chàng sung sướng lắm. Sự táo bạo của chàng đã thành công và tiếng đàn của chàng đã làm siêu lòng vị thần lạnh lùng sắt đá. Chỉ mong sao Eurydice đủ sức khoẻ để lên tới mặt đất.
Gần tới nơi, bỗng nhiên Orpheus cảm thấy như không nghe thấy bước chân nàng Eurydice. Chột dạ, chàng bèn quay lại xem nàng còn đấy không và thế là Eurydice tuột xuống lòng đất. Orpheus kêu rống lên, dang rộng tay ra. “Nàng yêu, hãy ở lại với ta đừng chết một lần nữa để ta cô đơn!”.
Nhưng không một tiếng trả lời. Chàng Orpheus đứng chôn chân nhìn vào khoảng không, rồi chàng đành bước những bước nặng nề lên cõi dương gian.

PERUS ĐI SĂN ĐẦU QUÁI VẬT GORGON
Acrisius, vua xứ Argos, từ Delphi ra về, lòng buồn rười rượi vì ông vừa nhận được một lời sấm truyền ghê sợ. Vị nữ tu đã bảo ông: “Người không có con trai, nhưng sẽ có một thằng cháu, và người sẽ chết vì tay thằng cháu đó.”
Nhà vua chỉ có một nàng con gái. Trong cơn lo buồn, ông nghĩ: “Ta cương quyết tránh số phận đó. Ta sẽ nhốt nàng con gái Danae của ta trong một ngôi nhà bằng đồng làm sâu dưới đất, không cho con ta tiếp xúc với đàn ông.” Rồi nhà vua thực hiện kế hoạch ác độc đó.
Nhưng nhà vua đã quên không nghĩ đến các vị thần. Một phần mái nhà để trống. Một hôm nàng Danae ngồi buồn rầu ngẩng nhìn đám mây trôi, nào ngờ lúc đó thần Zeus đương chiêm ngưỡng dung nhan nàng. Thần biến thành một trận mưa vàng xối ùa vào phòng. Sau đó nàng Danae sinh ra một thằng con trai. Nàng dấu con, nhưng nhà vua biết và càng sợ hãi. Nhà vua không dám giết cậu bé Perseus, sợ thần thánh trả thù, mới cho đóng một cái rương lớn, bỏ mẹ con Danae vào đó rồi thả ra biển. Chiếc rương bềnh bồng trên sóng. Danae hát ru con ngủ. Sáng sớm hôm sau, ngọn sóng lớn xô chiếc rương vào gần hòn đảo nhỏ Seraphos. Một người đánh cá tên Dictys nhìn thấy mới lôi chiếc rương vào bờ. Mở nắp rương ra, ông ta phải mủi lòng khi nhìn thấy hai mẹ con đáng thương này. Ông đem mẹ con Danae về nuôi (ông ta không có con). Perseus lớn lên trong gia đình chài lưới này. Nàng Danae vẫn còn đẹp. Vì thế vua Polydectes là em Dictys mới yêu nàng và cưới nàng làm vợ. Nhà vua ghét Perseus (chỉ vì nàng Danae quá thương yêu con) cố tìm cách gạt bỏ chàng mới bảo Perseus: “Đã tới lúc con nên thực hiện những cuộc mạo hiểm vinh quang cho đời con. Cha nghĩ con nên tìm cách chặt đầu quái vật Medusa. Nếu thành công, con sẽ nổi tiếng lắm”.
Thế là chàng Perseus nghe lời cha ghẻ lên đường, tìm quái vật Medusa mà không nghi ngờ gì ác ý của nhà vua.
Chàng cũng không ngờ rằng đây là công việc hết sức nguy hiểm. Medusa là tên một trong ba con Gorgons, quái vật có cánh sống trên một hoang đảo. Răng nó như răng nanh lợn rừng, tay cứng như đồng, đầu thì rắn phủ thay tóc. Chàng Perseus không biết tìm ba con quái vật này ở đâu, mà chàng cũng không biết sẽ phân biệt được con nào là Medusa. Điều này rất quan trọng vì chàng chỉ có thể giết được con này thôi.
Chàng đi tìm kiếm mãi, cho đến một hôm chàng nhìn thấy một người trẻ tuổi đi giày có cánh, đội cái mũ cũng có cánh, tay cầm cái gậy có hai con rắn vàng quấn quanh. Perseus nhận ra ngay đó là thần Hermes. Thấy chàng, thần nói ngay: “Perseus, ta đồng ý cuộc mạo hiểm của ngươi. Nhưng ngươi phải được trang bị cẩn thận. Nếu không có giày lắp cánh, chiếc túi thần và cái mũ tàng hình của các nữ thần miền Bắc, ngươi không thể nào thành công nổi. Ta không thể chỉ cho ngươi chỗ các nữ thần đó ở, nhưng ta sẽ đưa ngươi tới mấy Bà Xám rồi họ sẽ chỉ cho người”.
Perseus hỏi: “Liệu họ có chỉ cho tôi không?”.
Thần Hermes trả lời: “Họ không muốn đâu nhưng ngươi có thể khiến họ phải làm. Ba Bà Xám này chỉ có một con mắt. Hãy cướp lấy con mắt đó khi họ truyền cho nhau. Bắt họ chỉ chỗ các nữ thần miền Bắc ở rồi hãy trả họ mắt”.
Rồi Thần Hermes đưa Perseus cây kiếm cong. Thần nói: ” Ngươi sẽ cần tới cây kiếm này vì vẩy của quái vật Medusa cứng như kim khí.”
Perseus vừa cầm thanh kiếm thì chàng thấy một tia sáng chói ở trên cao. Ngước nhìn lên chàng thấy nữ thần Athena đang bay xuống phía họ. Nữ thần lên tiếng nói với thần Hermes: “Thanh kiếm của em liệu giúp được gì, vì em dư biết rằng hễ nhìn thấy ba con quái vật đó lập tức người ta hoá thành đá. Hỡi Perseus, hãy cầm lấy cái mộc sáng này của ta. Khi lâm trận, nhà ngươi hãy nhìn vào mộc này và tìm bóng Medusa phản chiếu trong đó”.
Nói đoạn, nữ thần biến mất cùng với vùng ánh sáng. Perseus mải miết đi theo Hermes, theo thật xa. Tới chốn tận cùng trái đất, chàng thấy ba Bà Xám kỳ khôi đang ngồi truyền mắt cho nhau. Chàng lẳng lặng bò tới gần, chời tới lúc một bà lấy con mắt ra, chàng bèn giật lấy. Ba bà hét to lên khi bị mất mắt. Họ kêu gào chán rồi doạ nạt. Cuối cùng họ đành phải chỉ đường cho Perseus tới chỗ các nữ thần miền Bắc. Chàng lên đường tới gặp các nữ thần và được các nữ thần cho ba vật báu. Sau khi đã được trang bị đầy đủ, chàng Perseus mới bay tới hoang đảo, nơi ba con quái vật ở. Khi tới gần, chàng thấy rải rác trên đường và trên cánh đồng biết bao nhiêu người và vật đã hoá đá. Rồi chàng nhìn thấy ba con quái vật phản chiếu trong tấm mộc. Vẩy trên mình chúng lấp lánh dưới mặt trời, cánh xếp lại, những con rắn nằm trên đầu cũng cuộn lại, chúng đang ngủ. Perseus đang phân vân không biết con nào là Medusa thì chàng nghe văng vẳng tiếng thần Athena:
“Perseus, hãy xuống tấn công đi! Con ở gần bờ biển nhất là con Medusa đó”. Perseus liền bay xà xuống vung mạnh lưỡi kiếm chém đứt cái đầu ghê rợn. Chàng nắm đầu quái vật bỏ vào chiếc túi thần. Hai con quái vật còn lại nhảy lên vì giận dữ, và khi nhìn Perseus, chúng cất cánh đuổi theo nhưng không kịp.

CỨU NÀNG ANDROMEDA

Chàng Perseus bay, bay mãi và chàng lạc đường vì thần Hermes đã bỏ chàng. Chàng bay trên bãi sa mạc Lybian, máu ở trên đầu con quái vật rỏ xuống biển thành những con rắn độc sống mãi ở sa mạc. Đang bay chàng bỗng thấy một nàng con gái đẹp bị xích vào một tảng đá bên bờ biển. Nếu tóc nàng không bay trước gió và nước mắt nàng không rỏ xuống thì chàng đã tưởng đó là pho tượng. Cảm động trước sắc đẹp hiếm có của nàng, chàng mới lắp bắp hỏi: “Tại sao nàng bị trói ở đây? Tên nàng là gì vậy?”. Chàng gặng hỏi mãi nàng mới trả lời: “Tôi là Andromeda, con gái của vua Cepheus, vua xứ Ethiopians và bà Cassiopeia. Vì sắc đẹp của Bà mà tôi bị xích nơi đây. Thần thánh ghen tuông trước sắc đẹp của Bà. Bà đẹp hơn cả con gái thần Nereus. Thuỷ thần đã sai một con rắn tới rình cắn dân chúng tôi và theo lời sấm truyền thì chỉ cái chết của tôi mới khiến Thuỷ thần nguôi giận”.
Nàng vừa nói dứt lời thì sóng dội lên, báo hiệu cho biết con quái vật đang lên đường giết nàng. Nàng Adromeda hét lên. Cha mẹ nàng vội chạy tới ôm lấy con than khóc.
Chàng Perseus trấn an mọi người: xin tất cả đừng khóc. Tôi là Perseus, con của thần Zeus và bà Danae. Bây giờ tôi ra điều kiện thế này: nếu tôi cứu được Andromeda thì nàng sẽ là vợ tôi.
Bố mẹ Andromeda nhận lời.
Con quái vật đi tới, nó rẽ sóng như một con tàu. Perseus bay vút lên không trung. Nhìn thấy chàng, con quái vật chồm lên tấn công, chàng bèn nhào xuống đâm lưỡi kiếm vào vai bên phải của nó. Rồi cứ thế chàng đâm tới tấp cho đến khi con quái vật chìm xuống chết.
Nàng Andromeda thoát nạn và ngay ngày hôm đó chàng tổ chức lễ cưới nàng. Những bó đuốc được tung lên cao, nhang đốt thành ngọn lửa, những vòng hoa kết rủ từ nóc lâu đài xuống. Và khắp nơi vang lên tiếng đàn ca.


NGƯỜI THÀNH ĐÁ
Trong khi tiệc cưới đang tưng bừng náo nhiệt, cửa phòng tiệc bỗng mở tung và một đám người nổi loạn ùa vào. Đứng đầu là Phineas, cậu của Andromeda, giáo cầm lăm lẳm trong tay. Ông ta hét lên: “Hãy coi đây, ta tới để trả thù kẻ đã cướp vị hôn thê của ta!”.
Cha của Andromeda hét lại: “Cậu làm gì vậy? Khi con gái tôi bị xiềng xích, cậu chỉ đứng khoanh tay nhìn, vậy mà cậu dám đòi trả thù vị ân nhân của con gái tôi à? Ai đã cứu con tôi thoát chết, người đó được lấy nó”.
Phineas không nói nửa lời. Hắn nhìn hết vua đến Perseus, chưa biết nên lao ngọn giáo và ai, rồi hắn lao thẳng vào Perseus. Ngọn giáo cắm phập vào ghế chàng đang ngồi. Chàng Perseus nhảy lên rút ngọn giáo rồi lao lại phía Phineas. Nếu tên này không nấp sau bàn thờ thì hắn bị trúng rồi. Thế là đám địch thủ vùng lên. Tiếng vũ khí va chan chát, bàn tiệc biến thành bãi chiến trường, giáo bay tới tấp về phía Perseus. Chàng ghé vai nhấc tảng đá lớn đẩy về phía kẻ địch. Nhưng rồi chàng phải nhận rằng lòng can đảm cũng không thắng lại được đám đông kia. Chàng bèn hô lên: “Những ai là bạn ta hãy che mặt lại!” Đoạn chàng lôi cái đầu quái vật Medusa ra. Lập tức hai trăm kẻ địch hoá đá. Phineas vội đầu hàng. Hắn kêu cứu: “Hãy bỏ cái khí giới đáng sợ đó đi. Xin tha mạng sống cho tôi!” Perseus trả lời: “Mi, tên vô lại, mi sẽ là một pho tượng trong lâu đài này”. Phineas vội quay đi nhưng không kịp, và hắn biến thành một pho tượng đá.


LỜI SẤM NGHIỆM
Vào cuối năm đó, Perseus rong buồm cùng nàng Andromeda trở về. Lòng oán ghét của vua Polydectes không thuyên giảm chút nào. Ông ta thấy Perseus trở về thì rất giận dữ và không chịu tin là chàng đã giết được Medusa. Với giọng mai mỉa, nhà vua trách chàng sao lại về tay không.
Perseus không chịu được nữa. Chàng hét lên: “Con chứng tỏ ngay cho cha biết điều con nói là đúng sự thực. Tất cả những người thân, xin hãy che mắt đi!” Rồi chàng giơ đầu con quái vật cho bạo vương Polydectes thấy.
Đó là lần chót chàng dùng cái đầu kinh dị đó. Sau đó chàng biếu nữ thần Athena.
Giờ đây Polydectes đã chết, nàng Danae muốn trở về quê hương để xin hoà giải cùng cha. Chàng Perseus bèn phong cho ngư phủ Dictys làm vua hải đảo đó, rồi cùng mẹ và nàng Andromeda trở về Hy Lạp.
Khi họ trở về Argos thì vua Acrisius vắng nhà. Nhà vua đang dự cuộc vui ở Larissa. Nghe tin đó chàng Perseus mới quyết định tới Larissa để dự và chính lời sấm truyền đã linh nghiệm ở đây. Khi tới lượt Perseus ném tạ, quả tạ đã rơi vào đám khán giả và giết chết một ông già. Đó chính là vua Acrisius, người đã có những quyết định độc ác đề cố tránh một số mệnh mà Trời đã định.


HERACLES – MƯỜI HAI CÔNG VIỆC
Trong tất cả các vị anh hùng Hy Lạp, người giỏi nhất là con trai của thần Zeus với cháu gái Perseus là nàng Alcmene (khi đó đã là vợ vua Amphitryon). Thần Zeus đặt tên chàng là Heracles (Heracles nghĩa là sự vinh quang của Hera). Vậy mà lời ca ngợi đó cũng không xoa dịu được lòng ghen tuông của Hera, vị nữ hoàng của thiên đình. Bà ghét người mang tên bà nên mới sai hai con rắn tới xiết cổ bé Heracles nằm trong nôi. Nhưng cậu bé kịp tỉnh dậy và bóp cổ rắn tới chết.
Từ đó, người ta trông đợi ở cậu bé khác thường những chuyện tầy trời. Cha hờ chàng (tức vua Amphitryon) lo giáo dục chàng thật cẩn thận về các chiến thuật cũng như về quyền pháp và đô vật. Heracles học thật mau và năm mười tám tuổi, chàng là chàng trai đẹp và khoẻ nhất Hy Lạp, luôn luôn ước mong trở thành anh hùng phụng sự đất nước. Thế là chàng đi đấu với những vật và những người khổng lồ, chẳng bao lâu uy dũng của chàng truyền đi khắp nơi.
Trước khi Heracles ra đời, nữ thần Hera đã buộc Zeus phải hứa với bà rằng hoàng tử đầu tiên sinh ra đời trong gia đình Perseus sẽ là đấng vua tối cao và sẽ cai trị tất cả đám hậu duệ của Perseus. Zeus bằng lòng vì thần hy vọng rằng Heracles là hoàng tử đầu tiên. Nhưng Hera đã cố gắng cho Eurystheus ra đời trước Heracles một giờ, và thế là Eurystheus làm vua cõi Mycenae còn Heracles bắt buộc phải là bày tôi.
Tuy vậy, Heracles vẫn nổi tiếng hơn vua nhiều. Điều này khiến Eurystheus rất buồn bực. Eurystheus tự nhủ: “Ta sẽ bắt hắn phải làm những công việc thật khó nhọc và chắc hắn sẽ mất mạng”. Rồi Heracles được lệnh của vua đi giết con sư tử miền Nemea, da con vật rất dầy, cung tên khí giới không thể giết nổi nó. Heracles không chịu tuân lệnh. Chàng nói: “Tôi, giòng dõi thần linh, không thể là đầy tớ của người”. Nhưng cha chàng, thần Zeus, vội can thiệp: “Con phải vâng lời, con ạ, vì Eurystheus là vua.”
Heracles đành vâng lệnh. Chàng tay không bóp cổ con sư tử. Từ đó, chàng luôn luôn đội chiếc mũ làm bằng hàm răng sư tử và khoác chiếc áo bằng da nó.
Rồi chàng lại vâng lệnh vua giết con rắn Hydra chín đầu ở miền Lerna.
Rồi chàng bắt sống con hươu cái ở núi Cerynea. Trong suốt một năm, chàng đã phải đi theo con vật có cặp sừng vàng và móng đồng này. Cuối cùng chàng bắt được nó.
Chàng lại bắt sống được con lợn rừng Eurythion đã phá hoại khắp vùng lân cận. Khi chàng vác con vật khổng lồ này trình vua thì vua hoàn toàn thất vọng. Ông ta nghĩ: “Thử sức mạnh tên này không được. Mỗi lần thử lại một lần làm hắn nổi tiếng thêm. Ta sẽ giao cho hắn một công việc không xứng đáng với người anh hùng và chắc chắn hắn sẽ thất bại”. Rồi cho gọi Heracles tới phán: “Chuồng ngựa của Augeas, vua cõi Elis, dơ bẩn lắm. Bệnh dịch đã phát sinh từ đó và lan tới Mycenae. Vậy ngươi hãy tới Elis rửa sạch các chuồng đó đi. Ngươi phải làm xong nội trong một ngày”.
Vua Augeas có ba ngàn ngựa. Hàng bao năm nay, chuồng ngựa không được rửa dọn gì cả. Nhưng Heracles cũng hoàn thành được việc này. Chàng đục hai lỗ tường rồi truyền nước hai con sông bên cạnh chảy qua chuồng ngựa cho đến khi chuồng thật sạch.
Sau việc này, vua Eurystheus bèn nghĩ tới đàn chim ăn thịt người ở gần hồ xứ Stymphalus. Đàn chim này có cánh mỏ và móng bằng sắt. Chắc chắn Heracles không thể tiêu diệt được chúng. Heracles bèn khua mõ inh ỏi doạ đàn chim cho bay lên rồi lấy cung tên bắn. Chỉ còn ít con sống sót vội bay đi trốn.
Rồi chàng sang đảo Crete đem về cho nhà vua con bò rừng Poseidon. Chàng cũng thuần hoá được đàn ngựa cái của vua Diomedes ở Thrace, đàn ngựa này được nuôi bằng thịt người. Chàng đánh nhau với đoàn nữ quân Amazons và đem về cho nhà vua giải thắt lưng của nữ hòang Amazons là Hippolyta đã bị chàng giết chết. Kế tiếp chàng giết được tên khổng lồ Geryon ba mình ba đầu và chiếm đoạt đàn bò của hắn.
Tới đây, vua Eurystheus hết hy vọng, chàng Heracles đã làm được mười việc phi thường, sau mỗi việc, chàng càng mạnh thêm và nổi tiếng thêm. Nhưng vua vẫn chưa chịu bỏ cuộc. Ông ta bắt Heracles tìm cho được ba trái táo vàng của đám chị em Hesperides. Táo này mọc ở một khu vườn thiêng, không ai biết ở đâu và được canh gác bởi một con rồng một trăm đầu không bao giờ ngủ.
Heracles không biết tìm khu vườn này ở đâu nhưng chàng cũng ra đi. Chàng lang thang tới ngọn núi Caucasus. Đứng trên ngọn núi, chàng nhìn thấy Prometheus bị trói. Chàng cởi trói cho và người khổng lồ này chỉ khu vườn thiêng cho chàng. Prometheus nói: “Bạn sẽ tìm thấy vườn đó ở chỗ Atlas đứng nâng vòm trời trên vai. Nhưng đừng cố tự tay chiếm những trái táo. Anh tôi, Atlas, là cha các cô Hesperides. Hãy nhờ ông ấy lấy táo cho”.
Heracles đã tới được chỗ Atlas đứng, nói với Atlas: “Để tôi đỡ vòm trời hộ cho ông nghỉ. Nhưng ông phải cho tôi vài trái táo vàng ở vườn Hesperides nhé”.
Atlas bằng lòng ngay, ru cho con rồng ngủ và ngắt ba trái táo vàng cho Heracles. Người khổng lồ này được nếm tự do một chút đâm ham bèn bảo Heracles: “Thôi bây giờ ông bạn hãy thế chỗ cho tôi nhé”. Nói đoạn định bỏ đi. Heracles vội kêu lại: “Đồng ý tôi sẽ thế chỗ cho ông nhưng hãy làm ơn đỡ hộ tôi một phút để tôi quấn lại dây thừng quanh đầu đã, kẻo đầu tôi sẽ bẹp dí mất”.
Người khổng lồ Atlas ngu dại làm theo lời Heracles. Thế là chàng bỏ đi.
Khi Heracles dâng ba trái táo vàng lên vua thì ông ta nghĩ rằng chả có việc nào là chàng ta không làm được. Nhưng ông ta vẫn nghĩ: “Có lẽ uy quyền dưới âm phủ sẽ vượt được sức Heracles. Ta sẽ sai hắn xuống bắt con chó Cerberus ba đầu vẫn đứng canh ở cửa âm phủ”.
Nhưng rốt cuộc, Heracles cũng hoàn thành được việc thứ mười hai thiên nan vạn nan này. Nhà vua sai Heracles đem trả lại con chó ba đầu và từ đó không thử thách chàng nữa.


DEIANIRA VÀ QUÁI VẬT ĐẦU NGƯỜI MÌNH NGỰA

Mặc dầu khắp nước Hy Lạp đều biết tiếng Heracles, vậy mà chàng vẫn tiếp tục thi thố tài năng. Không có người nào, vật nào kể cả các thần nữa thắng nổi chàng. Chàng đi du lịch tới Calydon. Ở đây chàng đã yêu và lấy được nàng công chúa Deianira xinh đẹp. Chàng đem nàng về quê nhà. Trên đường về, chàng trải qua một cuộc mạo hiểm kỳ lạ. Những trận mưa mùa đông làm nước sông xoáy cuộn. Đối với một mình chàng thì có gì đáng ngại đâu, nhưng còn nàng Deianira, làm sao chàng mang nàng qua được? Trong khi chàng đang phân vân thì quái vật đầu người mình ngựa Nessus biết chỗ nước cạn mới thủng thỉnh đi qua. Nó nói với Heracles: “Tôi sẽ đem dùm vợ ông qua sông. Còn ông thì ráng bơi nhé”. Chàng bằng lòng. Khi bơi sang tới bờ bên kia, chàng nghe thấy vợ chàng la lên kêu cứu. Nessus định đem nàng Deianira trốn đi.
Heracles thấy vậy thét lên: “Quân đểu! Mi định cướp vợ ta hả? Mi chạy nhanh nhưng mũi tên tẩm độc của ta còn đi nhanh hơn nhiều!”. Chàng bắn ngay một phát. Mũi tên cắm sâu vào lưng con vật và xuyên qua ngực. Nessus biết thế nào nó cũng chết vì mũi tên của Heracles đã tẩm máu độc của rắn Hydra chín đầu. Nó nghĩ: “Nhưng ta không chịu chết mà không trả được thù”. Nghĩ vậy, nó mới nói với nàng Deianira: “Hỡi nàng, tôi sắp chết. Tôi muốn chỉ nàng hay điều này. Nàng hãy giữ đống máu đọng ở lưng tôi. Chỗ máu ấy có phép mầu đấy. Nếu nàng nhuộm áo của chồng nàng bằng máu ấy, chàng sẽ không yêu ai hơn nàng”.
Nói đoạn, nó ngã vật xuống chết. Nàng Deianira lúc đó không nghi gì tình yêu của chồng nhưng nàng cũng cứ trút chỗ máu đó vào một cái lọ. Nàng nghĩ biết đâu rồi lại chẳng phải dùng đến nó. Rồi nàng dấu lọ ấy đi.


NESSUS TRẢ ĐƯỢC THÙ
Bao nhiêu năm qua, nàng Deanira đã hầu quên cái lọ kia. Cho đến một hôm nàng gặp dịp phải dùng tới nó.
Chàng Heracles đi đánh vua Eurythus, người chàng vẫn mang mối thù, vì trước kia nhà vua đã từ chối không gả con gái là nàng công chúa Iole cho chàng. Chàng giết được ông vua này cùng ba người con trai và bắt sống nàng Iole. Trên đường về, chàng dừng lại làm lễ tạ ơn cho chiến công vừa qua, nhưng chàng vẫn để tên đầy tớ Lichas tiếp tục dẫn tù nhân về.
Nàng Deianira nhìn thấy nàng Iole xinh đẹp mới thuơng cho số phận nàng ấy. Nhưng khi nàng biết chính vì Iole mà Heracles đã tiêu diệt giòng vua Eurytus, thi` nàng lại chuyển sang thương chính phận nàng. Rồi nàng sực nhớ đến lọ máu có phép mầu. Nàng vội lấy tấm áo lễ mà nàng dệt cho Heracles đem nhuộm vào chỗ máu kia. Rồi nàng gói áo lại, gọi tên hầu Lichas bảo: “Hãy mang ngay chiếc áo này tới cho chồng tôi và cẩn thận đừng giơ áo ra ánh sáng hay hơi nóng, cho tới khi chàng mặc”.
Lichas vừa đi khỏi thì nàng trở về phòng. Nàng kinh ngạc nhìn túm len nàng đã dùng để thấm máu. Túm len đang cháy tiêu, bọt đỏ nổi bong bóng khắp chung quanh. Nàng kêu lên: “Trời, tên Nessus đã lừa tôi rồi! Tôi xin thề trước thánh thần, nếu tôi khiến chàng Heracles chết, tôi sẽ chết ngay theo chàng”. Rồi nàng vội sai người đuổi theo Lichas.
Nhưng quá muộn. Chàng Heracles đã mặc áo và đang làm lễ tế thần. Mười hai con bò và một trăm con vật khác bị giết để dâng lễ. Heracles đang rót rượu và đốt nhang trên bàn thờ. Bỗng nhiên chàng kêu lên như bị rắn cắn. Chất thuốc độc để gần lửa nóng đã chảy ra thấm vào cơ thể bỏng rãy. Heracles cố cởi chiếc áo ra nhưng áo cứ dính chặt lấy người. Chàng xé được mảnh áo nào ra thì vải lôi luôn thịt chàng ra. Máu chàng xôi xục lên, gân cốt chàng nứt ra. Chàng chạy vội tới dòng suối gần đó, nhảy ùm xuống nhưng chất độc càng sủi sục trong máu chàng. Như điên dại, chàng nhổ cây rồi lăn lộn trên mặt đất. Chàng nhìn lên trời kêu la: “Hỡi Nữ hoàng Hera, tôi đau đớn thế này chắc Bà sung sướng lắm! Tôi phải đương đầu với quái vật Geryon ba mình ba đầu và con chó Cerberus để nhận cực hình này ư? Đôi bàn tay này đã hạ được con bò rừng đảo Crete, đã chiếm được dải thắt lưng của nữ hoàng Amazons, đã mang về được những trái táo vàng cơ mà? Con lợn lòi trên núi Arcadia, cũng như con Hydra chín đầu đâu có địch lại được ta. Đàn ngựa ăn thịt người cũng bị ta thuần hoá. Ta đã nâng cả vòm trời trên vai. Thế mà giờ đây ta phải chịu cực hình này; không lòng can đảm nào, không khí giới nào thắng được. Lửa âm ỉ thiêu cháy thịt ta. Trong khi đó kẻ thù của ta là vua Eurystheus thì vẫn mạnh khoẻ! Vậy mà ai cũng tin rằng thần thánh công minh!”.
Chàng đang lăn lộn như con vật trúng tên thì bỗng nhìn thấy tên hầu Lichas sợ hãi nấp trong hốc đá. Chàng hét to: “Chính mi đã đem món quà giết người này tới cho ta phải không?” Tên Lichas chỉ còn biết ôm lấy chân chàng. Heracles quá tức giận, quay tên hầu mấy vòng rồi quăng hắn thẳng ra biển Euboea. Đau đớn như thế mà Heracles vẫn chưa chết được. Người ta mang chàng về nhà. Nàng Deianira đã tự tử. Chàng mới ra lệnh chặt cây làm giàn hoả táng. Người bạn chàng là Philoctetes nhóm lửa. Chàng Heracles nằm trên giàn, lót tấm da sư tử miền Nemea ở dưới. Trông chàng như người nằm trên nệm torng một bữa tiệc vui.
Các vị thần cũng hoảng sợ khi ngọn lửa cháy tới người Heracles. Nhưng thần Zeus, cha chàng trấn an mọi người. Thần nói: “Con tôi đã chinh phục được tất cả, sẽ chinh phục được lửa nữa. Chỉ có hình hài của con tôi – phần nó thừa hưởng của mẹ nó là bị thiêu huỷ thôi. Còn phần nó thừa hưởng của tôi sẽ bất diệt. Tôi sẽ mang con tôi lên thiên đàng. Đó mới là nơi xứng đáng với nó”.
Các vị thần vỗ tay, và ngay cả nữ hoàng Hera cũng phải yên lặng. Thân thể Heracles đã cháy, nhưng vóc dáng chàng vẫn còn giống cha chàng vô cùng. Những người đứng quanh nhìn thấy một làn khói bay lên. Trên cao, thần Zeus đứng trong xe, giơ tay ra đỡ lấy con và đặt chàng vào giữa những vì sao.
 

JASON – NGƯỜI MANG MỘT CHIẾC DÉP
Jason là người kế vị ngôi vua Iolcus nhưng chưa chắc gì chàng lên ngôi được. Vì người chú Pelias đã chiếm ngôi và đuổi cha chàng đi. Chàng được con vật đầu người mình ngựa tên Chiron nuôi nấng. Con Chiron này đã dạy dỗ rất nhiều anh hùng trong hang nó. Dưới sự chăm sóc của con vật đó, Jason đã học được tất cả những điều mà một người anh hùng phải biết.
Tên chiếm ngôi Pelias rất buồn vì một lời sấm lạ. Sấm dạy rằng hắn phải coi chừng một người chỉ đi một chiếc dép. Pelias tìm hiểu lời đó mãi mà không nghĩ ra. Rồi Jason một hôm quyết định đi Iolcus để đòi lại ngôi báu. Chàng là một thanh niên cao, đẹp. Những lọn tóc bóng mượt rủ xuống cổ chàng. Chàng khoác tấm da báo bên ngoài chiếc áo chẽn cũng bằng da, tay chàng cầm hai cái giáo (lao). Trông chàng giống hệt một vị thần đến nỗi ai gặp cũng phải ngờ ngợ.
Khi gần tới Iolcus, chàng phải qua một con sông đầy bùn, chàng đánh rơi chiếc dép. Chàng tới khu chợ, nơi này đông nghẹt vì nhà vua đang làm lễ tế thần. Thấy chàng, thiên hạ thầm thì: “Ai kia, có thể là Apollo trá hình chăng?”
Nhà vua nhìn ngay xuống chân kẻ lạ, mặt thất sắc, tim như ngừng đập khi nhìn thấy người đó chỉ đi một chiếc dép. Sau nghi lễ, nhà vua hỏi ngay : “Nhà ngươi là ai, tên cha ngươi là gì?”.
Chàng trai trả lời: “Tôi là Jason, con trai của vua Aeson, tôi tới đây thăm hoàng thành của cha tôi”.
Pelias dấu nỗi sợ hãi, mời chàng về lâu đài, mở tiệc đãi chàng năm ngày liền. Rồi Jason nói với Pelias: “Hoàng thành này là của tôi vì tôi đúng là người thừa kế, nhưng tôi sẽ nhường cho chú tất cả của cải chú đã đoạt. Tất cả đồng ruộng và gia súc là của chú, tôi chỉ đòi lại cái quyền trượng và ngai vàng của cha tôi thôi.”
Pelias nghĩ thật nhanh, mặt hắn đổi sắc nhiều lần rồi hắn nói: “Cháu muốn thế nào cũng được nhưng chú cũng cần đòi cháu một điều kiện. Chú rất bận tâm về một giấc mơ. Hồn ma của Phrixus đã hiện về xin chú hãy lấy về cho được bộ lông vàng của con cừu linh đã có lần đem ngài qua biển tới Colchis, và sau đó ngài đã dâng hiến lên thần Zeus. Vậy cháu hãy đi lấy bộ lông đó về cho linh hồn Phrixus an nghỉ”.
Nghe xong, Jason cảm thấy lòng rung động vì bộ lông này vẫn là giấc mơ của bao anh hùng Hy Lạp. Mọi người đều biết rằng bộ lông vàng đó được treo ở Colchis trên một cành cây sến trong khu rừng thiêng, có con rồng canh giữ ngày đêm. Chàng mơ ước bảo vật đến nỗi không chú ý gì đến thâm ý của người chú. Chàng bèn trả lời liền:
“Cháu sẽ tới Cholchis cùng một đám anh hùng. Và cháu sẽ cố làm vừa lòng hồn ngài Phrixus”.
Rồi chàng kêu gọi những người gan dạ, kết nạp họ đi theo chàng. Chàng nhờ Argos đóng cho chàng một chiếc tàu có năm mươi mái chèo. Biết bao người tới xin theo chàng, cả Argos cũng xung phong đi. Chàng Heracles của xứ Tiryns, một chàng trai khoẻ nhất cũng đi với Jason. Laertes, cháu của thần Zeus cũng tới gia nhập. Chàng Orpheus thi sĩ kiêm nhạc sĩ kỳ tài, người đã xuống tận cõi âm tìm người vợ tên Eurydice, cũng vội vàng từ Thrace tới. Peleus, cha của Achilles, vị anh hùng của trận chiến thành Troy cũng tới. Còn biết bao dân tai mắt khác nữa. Khi đã sẵn sàng, Jason làm lễ dâng Hải thần, sau đó mọi người ngồi và chiếc tàu Argo nhổ neo. Bao nhiêu gian nguy đang chờ đoàn người Argonauts. Nhưng không ai sờn lòng.


VIỆC LÀM CỦA JASON
Ai có thể nói được tất cả những điều đã xảy ra trước khi đoàn người Argonauts tới được Colchis? Kể ra hết thì phải mất bao nhiêu cuốn sách vì biết bao người đã thuật lại chuyến phiêu du của những vị anh hùng này, mà mỗi người kể một cách. Nhưng chỉ cần biết rằng cuối cùng họ đã tới nơi vào lúc hoàng hôn, và mọi người đều mệt mỏi. Họ hạ buồm, chèo ngược dòng sông để tới kinh đô. Jason đã đổ rượu dâng thánh thần bày tỏ lòng biết ơn. Rồi mọi người nghỉ ngơi. Sáng hôm sau, Jason nói với bằng hữu : “Chương trình của tôi là đoạt được bộ lông cừu vàng mà không phải đánh nhau. Tôi sẽ hỏi xin vua Aeetes, và vua sẽ bảo chúng ta phải làm gì. Xin các bạn hãy ở đây để tôi cùng hai bạn tới lâu đài vua”.
Vua Aeetes tiếp họ rất ân cần. Theo tục lệ, nhà vua không hỏi han gì cho tới khi mọi người ngồi vào bàn ăn. Nhưng vừa nghe biết khách là ai và tới xứ này với mục đích gì, vua Aeetes đổi ngay thái độ. Ông ta nói lớn: “Hãy đoạt vương trượng và ngai vàng của ta đã rồi hãy lấy bộ lông cừu đó! Hãy trở về ngay đi kẻo ta xẻo lưỡi, chặt tay lũ ngươi bây giờ!”.
Jason ôn tồn trả lời: “Xin Ngài hãy nén giận. Chúng tôi tới đây duy có một mục đích đó. Lệnh truyền của một vị vua ác hiểm đã khiến tôi tới đây. Tôi xin Ngài hãy ban vật đó cho chúng tôi. Nếu chúng tôi có phải làm việc gì hầu Ngài, chúng tôi cũng xin sẵn sàng”.
Vua chau mày rồi đổi ngay thái độ dịu dàng nói: “Ta không có thù oán gì người nhưng ngươi phải cho ta thấy lòng can đảm của người. Ở cánh đồng Ares, ta có hai con bò một chân đồng, thở ra lửa. Người phải đóng ách cho chúng rồi cầy cho xong cánh đồng Ares, rồi người phải lấy răng rồng reo lên khoảng đất. Đám răng rồng reo đó sẽ nảy sinh một đoàn chiến binh. Người phải giết đám chiến binh này trước khi trời tối. Ta đã làm tất cả những việc này, nếu người không làm được, ta sẽ không bao giờ cho bộ lông cừu kia”.
Jason bối rối, không nói năng gì. Làm sao chàng có thể hứa làm được một công việc vô vọng kia? Nhưng rồi chàng cũng trả lời:
“Việc Ngài đòi hỏi quá nặng nề. Nhưng tôi nhận sẽ làm cho dù có nguy đến tính mệnh đi nữa. Còn có những điều tệ hơn cái chết”.
Nói đoạn chàng cùng hai bạn trở về tầu.
Sau khi nghe chuyện nhiều người xin làm thay Jason, nhưng chàng từ chối hết. Chàng nói : “Định mệnh đã đem tôi tới đây, dù chuyện gì sẽ xảy đến, tôi cũng phải vâng theo định mệnh.” Tới đây có một người cháu của nhà vua, tên Argus, người mà Jason đã cứu thoát chết trong một cuộc đắm tàu, đứng lên nói với Jason: “Ông không làm được việc mà ông tôi đòi hỏi đâu. Hãy để tôi đi cầu cứu Medea, em gái mẹ tôi. Bà rất giỏi pha thuốc độc. Chỉ có Dì tôi mới giúp ông đóng ách bò mộng và cày đám ruộng Ares được”. Jason buồn bã trả lời: “Thật buồn khi phải nhờ vào một người đàn bà để được an toàn. Nhưng nếu bạn muốn thì cứ tới tìm bà ta.”
Cả Argus và Jason cũng không biết nàng Medea sẽ làm gì để giúp họ. Riêng phần Medea thì quả nàng đang cố gắng làm sao giúp được chàng. Lý do vì nàng đã nhìn thấy Jason và đã rung động trước vẻ đẹp hùng tráng của chàng. Từ trước chưa bao giờ nàng mê ai, nhưng bây giờ thì nàng đang phải chịu sự giằng co giữa lý và tình. Nàng tự nhủ: “Nếu ta không giúp thì chắc chắn chàng sẽ chết, nhưng liệu ta có thể lừa phản cha ta (vua Aeetes) để giúp người khách lạ, rồi khi người đó trở về quê quán sẽ làm chồng một người đàn bà khác. Như thế không được. Trước khi giúp ta muốn chàng phải hứa là sẽ cưới ta”.
Nàng đang ngồi suy nghĩ thì chị nàng gọi nàng nói: “Em Medea ạ, con trai Argus của chị đã được chàng Jason cứu thoát chết. Chị xin em hãy cho chàng ta một phương thuốc để khắc phụ được đám bò mộng”. Medea trả lời: “Vì cháu Argus, vâng, em sẽ làm. Chị bảo cháu nói với Jason là sáng sớm mai, em sẽ tới đền Hecates; rồi sẽ cho chàng ta phép mầu để thắng lũ bò”.
Sáng hôm sau, chàng Jason tới đền Hecates gặp Medea. Chưa bao giờ trông chàng đẹp trai như vậy. Nàng nhìn dán vào chàng. Khi chàng nắm lấy tay, tim nàng đập rộn rã, nàng chẳng thốt được lời nào. Cả hai đứng yên một hồi lâu rồi Jason nói: “Tôi đến đây xin nàng phép bùa. Nàng muốn đòi lại điều gì xin cứ nói. Cũng xin nàng hiểu rằng, nếu nàng giúp tôi lấy được bộ lông cừu đó, nàng sẽ bất diệt. Nước Hy Lạp chúng tôi sẽ ca ngợi nàng mãi mãi”.
Medea đứng sững im lặng. Nàng xúc động quá, không nói nên lời. Nàng chỉ đặt một cái hộp nhỏ vào tay Jason. Jason giữ chặt chiếc hộp, mắt nhìn nàng không chớp. Mãi sau Medea mới nói được: “Chàng phải làm như thế này …”. Rồi nàng chỉ cho chàng cách dùng đạo bùa đó. “Hãy bôi dầu vào người chàng và cả vũ khí của chàng để khỏi bắt lửa. Và khi đám chiến binh nổi dậy, hãy ném một hòn đá lớn vào chúng. Như vậy chúng sẽ đánh lẫn nhau. Khi chúng chết hết, chàng sẽ lấy được bộ lông kia.”
Rồi nàng bật khóc, và nói thêm: “Xin đừng quên tên Medea khi chàng về tới nhà, vì người ấy lúc nào cũng nghĩ tới chàng”. Jason say sưa trả lời: “Không bao giờ tôi quên nàng được. Nhưng nếu nàng theo tôi, toàn dân Hy Lạp sẽ tôn thờ nàng, vì chính nhờ nàng mà chồng con, anh em họ đã về được tới nhà. Bây giờ chỉ có cái chết mới chia lìa được đôi ta”.
Medea muốn nghe chàng nói mãi, nhưng đã tới lúc phải chia tay. Khi Jason trở về tầu, nàng Medea trở về lâu đài; nàng bị cấu xé giữa tình và lý.
Tờ mờ sáng hôm sau, dân trong tỉnh đã tề tựu ở cánh đồng Ares. Họ đứng trên những bờ dốc cao. Vua Aeetes ngồi giữa đám đông, vua mặc áo đỏ, cầm trong tay chiếc quyền trượng bằng ngà. Mọi người đổ dồn mắt vào Jason đang đứng nhìn cái cày và cái ách nặng nề. Bỗng nhiên có tiếng bò rống lên. Đám bò mộng chân bọc đồng đang ào tới miệng và lỗ mũi thở ra khói và lửa ngùn ngụt. Cỏ bắt lửa cháy bùng lên. Jason tiến tới. Đàn bò nhìn thấy chàng bèn lắc đầu và đạp chân sâu xuống đất.
Đám bạn Argonauts của chàng nín thở nhìn chàng tiến tới gần đàn bò. Tim họ ngừng đập khi họ thấy rõ Jason bắt từng con bò quỳ xuống, rồi đóng ách cho chúng. Khi lưỡi cày xới lớp đất đen lên, các bạn Jason reo hò ầm ỹ, còn đám người Colchians thì hết sức kinh ngạc. Jason cày đến đâu, reo răng rồng tới đó. Tới chiều thì cánh đồng bốn mẫu đã cày xong. Jason tháo ách ra, chàng hét to một tiếng, đàn bò sợ hãi chạy một mạch về chuồng. Khi chàng ngoảnh mặt lại thì đã thấy cả một đoàn lính chiến từ đất chui dần lên. Đám lính lăm le lao những ngọn giáo vào chàng. Nàng Medea cũng rất lo ngại khi thấy một mình chàng phải đương đầu với đám giặc đông như vậy. Nàng niệm thần chú để giúp chàng. Nhưng không sao, Jason cầm tảng đá lớn ném vào đám giặc. Tức thì chúng quay đánh lẫn nhau và tận diệt lẫn nhau. Các bạn chàng vui mừng quá. Họ chạy ùa xuống ôm lấy chàng. Cả đám người Colchians cũng reo hò. Riêng vua Aeetes im lặng trở về lâu đài. Nhà vua giận lắm vì ông ta thừa biết rằng Jason đã được Medea bí mật giúp đỡ. Suốt đêm ông ta nghĩ cách trả thù Jason.


BỘ LÔNG CỪU VÀNG

Nàng Medea thao thức suốt đêm. Nàng sợ vua cha, và nàng cũng sợ luôn những chuyện sẽ xảy ra cho nàng nếu nàng trốn đi với Jason. Cuối cùng nàng quyết định đi theo Jason. Nàng niệm thần chú cho cửa lâu đài mở rồi vội tới tìm Jason nói thẳng với chàng: “Cha tôi đang định kế trả thù. Chúng ta phải trốn mau. Tôi sẽ lấy bộ lông cừu vàng cho chàng. Chỉ xin chàng thề rằng sẽ đối xử tử tế với tôi ở nước chàng”. Jason vội hứa: “Xin thánh thần làm chứng cho, tôi sẽ cưới nàng làm vợ”. Medea nói: “Vậy thì chúng ta hãy đi lấy bộ lông cừu ngay”.
Thế là chiếc tàu chở mọi người tới nấm mộ thiêng. Jason và Medea tới cây sến. Con rồng vươn cổ định giết họ. Nó rít lên ghê sợ nhưng Medea làm phép cho nó ngủ. Jason vội giật lấy tấm lông cừu rồi cả hai chạy về tầu. Mọi người say sưa ngắm bảo vật mà họ đã mất bao nhiêu công lao mới chiếm được. Jason nóng lòng khởi hành, mới nói với các bạn : “Chúng ta hãy dời khỏi ngay nơi đây vì chắc chắn sắp bị đuổi theo. Có mặt nàng Medea ở đây, chính nàng giúp chúng ta hoàn thành sứ mạng. Nàng sẽ là người vợ chính thức của tôi”.
ĐƯỜNG VỀ
Quả như lời Jason nói, họ vừa ra gần tới biển thì đoàn tầu của vua Aeetes rượt theo sau, thoạt đầu còn cách xa, nhưng đoàn tàu Colchian nhẹ hơn nên đã tiến mỗi lúc một gần. Khi Jason tới cửa sông Ister để ra biển Ionia, thì tàu địch đã được bố trí tản mát khắp các đảo xung quanh và sẵn sàng tấn công. Jason hoảng kinh nói: “Địch đông quá. Chúng ta hãy lên bờ thương lượng với họ”. Thủ lãnh của đoàn tầu Colchian là con trai vua Aeetes tên Apsyrtus bằng lòng cho Jason bộ lông cừu nhưng còn Medea thì phải được đem tới đền Artemis ở hòn đảo bên cạnh. Vua của miền này sẽ định đoạt số phận nàng, hoặc là nàng phải trở về, hoặc được đi theo Jason. Medea tưởng phát điên lên khi thấy Jason bằng lòng. Nàng khóc: “Jason, chàng đã quên lời hứa rồi ư? Vì chàng mà tôi giờ này ở đây! Chàng dư biết rằng nếu trở về với vua cha, tôi sẽ phải chết. Xin đừng bỏ tôi!”. Nàng nói tha thiết đến nỗi Jason phải tránh ánh mắt của nàng. Chàng vội nói gạt: “Sự thoả thuận chỉ là một mưu kế thôi. Chúng ta đang cố trì hoãn cuộc xô xát. Chương trình của chúng ta phải giết được Apsyrtus. Khi bọn Colchians mất thủ lãnh, chúng ta sẽ thắng họ dễ dàng”. Medea nhìn vào tận mắt Jason, nói : “Nếu quả thật đây là ý định của chàng, em sẽ đi sâu thêm vào tội lỗi, em sẽ nộp em trai cho chàng”. Thế là nàng vờ nhắn tin cho em biết là nàng đã bị bắt đi. Nếu đêm này Apsyrtus tới đền Artemis, nàng sẽ chỉ kế cho lấy lại bộ lông cừu. Apsyrtus vô tình sa bẫy. Giữa đêm, nay lúc Apsyrtus bước vào đền, Jason bèn đâm chàng ta một nhát chết liền. Rồi cả bọn Argonauts xông vào giết hết đám tuỳ tùng của Apsyrtus. Thế rồi tàu Argo tiếp tục đường về Hy Lạp.


MEDEA VÀ JASON
Mang được bộ lông cừu vàng về tới Iolcus, Jason được tiếp đón nồng nhiệt giữa tiếng reo vang của toàn dân. Nhưng Jason thấy lòng ân hận vì thiếu mặt cha. Cựu vương Aeson vì già yếu, bệnh tật đã không tới chứng kiến được cảnh vinh quang đó của con. Chàng bèn nói với vợ là nàng Medea rằng nhờ những bùa chú phù phép của nàng mà chàng thành công được như vậy. Nay chàng chỉ xin nàng lại dùng bùa phép lấy đi của chàng một số tuổi trời bù sang cho cha chàng khoẻ mạnh lại chút ít để cùng chàng chia sẻ vinh quang này. Nàng Medea nói rằng nàng có thể làm được điều ấy mà không cần phải lấy đi mảy may tuổi thọ của chồng.
Vào một đêm trăng tròn, Medea đợi tới lúc thật khuya khoắc. Nàng niệm chú gửi lên trăng sao trên trời; nàng niệm chú gửi tới Hecate, vị nữ chúa miền âm phủ; tới Tellus, nữ thần cai quản những loài cây lạ thường dùng làm bùa ngải. Nàng niệm chú gửi tới chư vị thần linh cai quản các vùng rừng, núi, sông, biển. Rồi một cỗ xe có rồng bay kéo tới, nàng lên xe, bay lên cao, tới các vùng xa lạ hái thuốc trường sinh. Chín đêm như vậy. Khi mọi thứ đã kiếm được đầy đủ, nàng cho thiết lập hai bàn thờ. Một cho nữ thần Hecate; một cho nữ thần của tuổi trẻ là Hebe. Cựu vương Aeson khi đó được nằm thẳng trên giường và ngủ mê như chết. Jason và tất cả mọi người không ai được bén mảng tới.
Medea xoã tóc cầu nguyện Diêm chúa Hades hãy khoan kết thúc cuộc đời của cựu vương, rồi ba lần nàng chạy quanh hai bàn thờ, nhúng cành cây lớn vào máu con cừu đen đã bị chọc tiết làm vật tế cúng, nhóm lửa đốt những cành cây lớn đó để đun sôi một cái vạc lớn trong đựng đủ các loại cây cỏ bùa ngải cùng những thứ kỳ dị như con ếch già da trắng phau, đầu và cánh chim cú, ruột con chó sói, và nhiều thứ vô danh khác. Khi những thứ trong vạc đó sôi sủi lên, nàng cầm một cành ô-liu đã chết khô khoắng vào trong, khi nàng nhấc ra thì, ô lạ chưa, cành khô đó đã sống lại với lá màu xanh tươi mơn mởn. Đoạn nàng cắt cổ cựu vương Aeson, đổ vào miệng cựu vương và và vết thương ở cổ ông thứ thuốc cải lão hoàn đồng trong vạc. Aeson tỉnh lại, da thịt hồng hào, tóc xanh lại, bắp thịt cường tráng như thuở bốn mươi năm về trước.
Bốn cô con gái của Pelias (kẻ tiếm ngôi) cũng muốn nhờ Medea làm như vậy cho cha mình. Medea làm bộ ưng thuận và cũng sửa soạn nấu vạc thuốc cải lão hoàn đồng như vậy. Nhưng khi bốn cô con gái được nàng giúp sức cắt cổ cha xong thì Medea lên cỗ xe rồng bay phóng đi mất. Vì việc lừa đảo này của nàng mà Jason không chiếm lại được ngôi báu tại Iolcus. Con trai của Pelias đã buộc chàng phải trốn sang Corinth. Và chính tại nơi đây câu chuyện tình giữa Jason và Medea tới chung cuộc bi thảm.


KHI TẤM MÀN ĐƯỢC VÉN LÊN
Medea và Jason sống với nhau được mười năm. Mười năm nàng Medea sống hạnh phúc bên chồng và hai con trai yêu quý. Vì ba người thân yêu này mà nàng phải xa nhà, xa vua cha và phạm bao tội lỗi. Thế rồi một ngày, khi tấm màn được vén lên khỏi mắt nàng, nàng đã nhìn thấy con người thật của Jason, một con người nông cạn, ích kỷ, bội phản và nhẫn tâm.
Sau mười năm chung sống, Jason đã chán người vợ xứ Colchis. Chàng say mê con gái vua Creon, vua xứ Corinth. Chàng muốn cưới nàng công chúa Glauce đó. Cho mãi tới ngày cưới chàng mới báo cho Medea hay và xin ly dị cùng nàng. Giờ phút đó tình yêu của nàng đối với Jason đổi ngay sang lòng oán giận vô bờ. Nàng chỉ mong muốn một điều: trả đũa Jason. Trong cơn tức giận, nàng đã vụng về cho chàng biết ý định. Thế là vua Creon sợ nàng sẽ làm hại con gái ông, ông bèn cương quyết hạ lệnh đuổi mẹ con nàng ra khỏi lãnh thổ. Nàng xin ở lại Corinth nhưng Greon nhất định không chịu. Sau nàng chỉ xin ở nán lại một ngày. Nhà vua đành cho phép. Medea thầm nghĩ : “Một ngày đủ rồi, ta sẽ tìm ra cách trả thù. Ta sẽ làm cho lễ cưới của họ thật thảm sầu”. Nàng đang cân nhắc mấy cách trả thù thì Jason tới. Chàng ta nói: “Nàng đã thấy nóng nảy là có hại chưa? Nếu nàng kiên nhẫn chịu đựng ý bề trên thì nàng được ở lại đất này rồi. Giờ đây vì thốt ra những lời xàm báng đó mà nàng bị đuổi đi. Nàng gọi tôi là người hèn nhát, vậy mà tôi vẫn tới đây để xem mẹ con nàng có thiếu thốn gì chăng”.
Medea trả lời: “Quân vô lại, mi còn tới đây nữa ư? Mi tới đây không phải là để chứng tỏ mi có đủ can đảm đối diện với những người thân của mi sau khi mi đã làm tổn thương họ, mà mi tới đây chỉ vì không còn biết nhục là gì nữa. Nhưng không sao, mi tới cũng được, để tiện đây ta được dịp nói rõ con người của mi”. Thế rồi Medea nhiếc chàng thậm tệ, nhắc lại lời thề của chàng, than thân trách phận không thể về quê nhà và cũng chẳng biết đi đâu. Vì yêu chàng, nàng đã gây thù oán với những người mà lẽ ra chả bao giờ nàng nên đối xử nhầm lẫn như vậy. Nàng nói: “Tôi không có người bạn nào. Chàng thật đáng trách, khi vào đúng giờ hôn lễ của chàng thì vợ con chàng, những người đã cứu chàng, phải trở thành những kẻ ăn mày đi lang thang.” Jason thản nhiên trả lời: “Công cứu mạng tôi, nàng đã được đền bù xứng đáng. Thế nàng đã chẳng được sống ở Hy Lạp thay vì ở hòn đảo man rợ kia ư? Nàng đã chẳng nổi tiếng ư? Chẳng phải tôi ưa thích vợ mới mà hỏi cưới nàng Glauce đâu. Chính vì tôi nghĩ rằng nếu tôi làm rể đức vua đây, mẹ con nàng sẽ được sống sung sướng”.
Medea khóc lóc: “Tôi không hề màng giàu sang phú quý. Tiền của của một tên vô lại không đem lại hạnh phúc”. Rồi nàng đuổi Jason ra khỏi cửa.
Lát sau nàng hối tiếc, bèn cho gọi Jason lại, vì chàng ta cần cho mưu kế của nàng. Gặp chàng, nàng giả vờ không quan tâm gì đến cuộc hôn nhân nữa. Nàng xin Jason: “Hãy cố nói với nàng Glauce cho hai con ở lại, để một mình tôi đi thôi. Tôi cũng xin tiếp tay với chàng để thuyết phục nàng ấy. Tôi sẽ cho con mang món quà cưới tuyệt đẹp tới tận tay nàng. Đó là một tấm áo bằng thứ hàng đẹp nhất và một chuỗi vòng vàng chạm. Tôi đành hy sinh những bảo vật đó để cho các con khỏi phải sống lưu đầy. Tặng phẩm làm mềm lòng được cả thánh thần và dễ khiến người ta đổi ý hơn trăm ngàn lời nói”.
Tặng phẩm tuyệt mỹ tới tay cô dâu. Nàng sung sướng mặc và đeo vào. Vừa mặc xong, nàng Glauce bỗn xây xẩm. Nàng lảo đảo ngồi phịch xuống ghế. Miệng nàng xủi bọt. Nàng kêu thét rồi chồm lên. Medea đã ngâm tấm áo và chuỗi vòng vàng vào một chất thuốc độc mạnh nhất, giờ đây phát lửa. Nàng Glauce ngã vật xuống, người cháy như ngọn đuốc. Khi cha nàng tới thì nàng đã chết. Nhà vua ôm con khóc lóc, chất thuốc độc ngấm luôn vào da thịt ông ta. Thế là cả hai cha con cùng chết.
Medea vui sướng khi nghe tin người dắt con nàng về thuật lại. Nhưng còn Jason, nàng chưa làm gì cả. Thì giờ đây chàng ta đến để định cứu hai con vì chàng sợ họ hàng vua Creon sẽ trả thù chúng và cả Medea, mẹ chúng nữa. Trông chàng như người mất hồn. Nhưng chàng tới quá trễ. Hai con chàng đã chết. Chính Medea đã giết những đứa con mà nàng yêu quý để trả thù Jason. Chàng đập cửa nhưng Medea không chịu mởi. Chàng kêu gào: “Hỡi các con yêu, sao các con gặp phải người mẹ tồi tệ đến thế này!” Chàng nghe thấy Medea trả lời: “Không phải tay tôi, mà chính là sự đối xử tàn nhẫn của chàng đối với tôi đã giết chúng”. Jason van xin: “Hãy cho tôi xác các con để tôi đem chôn”.
“Không, tôi sẽ tự tay chôn chúng!”.
Hoàn toàn yên lặng. Rồi bỗng Jason nghe tiếng vi vút trên đầu. Chàng nhìn lên, thấy cỗ xe có rồng phun lửa kéo đi mang nàng Medea trốn khỏi Corinth.


DAEDALUS
Vào thời vua Minos thống trị Crete cùng lực lượng hải quân mạnh mẽ đóng ngoài biển, thì ở thành Athens có một người tên là Daedalus. Chàng ta nổi tiếng là một kiến trúc kiêm điêu khắc gia đại tài. Kiểu gì chàng cũng vẽ được, hình gì chàng cũng đẽo nặn được. Tượng của chàng nặn trông y hệt người sống. Ai ngắm cũng có cảm tưởng rằng những bức tượng đó có thể bất thần vẫy tay, bước đi một bước hoặc mở miệng.
Chàng có người cháu gọi bằng cậu tên Talus cũng rất có tài. Chị chàng đã cho thằng bé Talus ở với chàng để học hỏi thêm. Nhưng thực sự, Talus vốn có biệt tài mà lại giàu trí tưởng tượng hơn cả Daedalus. Một hôm nó đi chơi trên bờ biển, nó mới lượm được cái xương cá. Ngồi buồn, nó cầm cái xương cá cưa vào miếng cây thấy đứt sâu vào gỗ. Nó mới đem xương cá về nhà bồi thép vào. Thế là nó làm được cái cưa. Lần khác, nó buộc hai thanh sắt vào một đầu. Nó cắm một thanh xuống đất và quay từ từ thanh kia chung quanh thành một vòng tròn. Thế là nó phát minh được cái com-pa.
Talus là một học trò khiến thầy nào cũng phải kinh ngạc và hãnh diện. Nhưng Daedelus thì không. Thấy cháu giỏi, chàng ta lấy làm sợ hãi và ghen ghét. Chàng ta nghĩ: “Talus sẽ vượt ta tới nơi!”. Thế là chàng sinh lòng muốn hãm hại thằng bé. Một hôm hai cậu cháu trèo lên núi cao, Daedalus bèn đẩy cho Talus té xuống chết. Chàng không định trước như vậy, mà chỉ do một động lực điên rồ xảy đến bất thần. Giây phút sau chàng quá sợ, vội chạy xuống kiếm thằng bé nhưng trễ rồi, Talus đã chết. Daedalus có tài khéo tới mấy cũng không làm Talus sống lại được nữa. Bây giờ để cứu chính mạng mình, Daedalus phải đi trốn. Chàng bỏ Athens, đi lang thang rồi vượt biển tới Crete.
Vua Minos vui vẻ đón nhận Daedalus. Nhà vua đã có ngay ý định nhờ đến tài của chàng. Vua có một con quái vật đáng sợ, từ đầu tới vai là bò mộng, mình và chân là người. Con vật tên là Minotaur (Con bò mộng của Minos). Vua muốn có một chỗ để nhốt con vật này. Ngôi nhà đó phải xây thế nào để cả con Minotaur lẫn những nạn nhân bị đem vào cho nó ăn thịt đều không trốn ra được.
Nhà vua ngỏ ý đó với Daedalus. Chàng liền vẽ kiểu toà mê cung Labyrinth. Nơi đây có một hệ thống lối đi cực kỳ rắc rối. Đường đi thật quanh co, chạy vòng quanh để rồi chả dẫn đến đâu cả. Đã bước chân vào Labyrinth thì đành chịu không sao tìm được lối ra. Ngay cả Daedalus đã có lần xuýt lạc.
Vua Minos hài lòng về toà mê cung này lắm và hết sức chiêu đãi Daedalus. Nhưng chàng chẳng sung sướng gì vì chàng cảm thấy mình như một tên tù nhân ở đảo Crete. Nhà vua sợ chàng tiết lộ bí mật về toà mê cung nên đã không cho phép chàng ra khỏi đảo. Chính vì lý do đó mà chàng lại càng mong mỏi ra đi. Chàng thèm khát nhìn đàn chim tung cánh bay. Một hôm, chàng chợt nảy ra một ý nghĩ khi ngắm nhìn đàn chim biển bay lượn trên mặt đại dương: “Vua Minos cấm ta đi đường bộ hay đường thuỷ nhưng không cấm ta bay đi được.”
Thế là chàng bắt đầu học cách chim bay và quan sát xem cánh chim được làm như thế nào. Chàng ngắm những con chim sơn ca xếp cánh lại ra sao, tung cánh ra như thế nào, chúng cất cánh như thế nào, chúng bay từ trên cây xuống ra sao, cả cách chúng bay đi bay lại nữa. Chàng ngắm những con đại bàng bay vút lên rồi nhào xuống đất. Chàng cũng quan sát xem lông được xếp ra sao. Chỗ lông nào to, chỗ nào lông nhỏ. Khi chàng đã nắm vững được bí mật của sự bay, chàng mới đi lượm lông chim đủ cỡ, rồi ngồi trong phòng kín, chàng bắt đầu kết cánh. Thoạt tiên chàng xếp một hàng lông tơ, rồi tới một hàng lông lớn hơn, phủ lên hàng lông tơ, rồi tới hàng lông lớn hơn chút nữa. Cứ xếp thế cho đến khi thành một cái cánh. Chàng lấy dây buộc ở giữa những lớp lông, còn ở dưới thì chàng phết sáp. Xong rồi chàng uốn cái cánh hơi cong một chút cho giống cánh chim thật. Thằng con trai của chàng tên Icarus luôn luôn đứng bên xem cha nó làm. Nó nhặt lông chim bay cho cha nó.
Khi Daedalus làm xong đôi cánh, chàng bèn lắp vào người. Chàng tung người lên rồi bay lượn lờ trên không trung. Chàng vỗ cánh như đã ngắm chim làm và thế là chàng bay được cao. Thằng Icarus vỗ tay reo mừng. Nó bèn đòi cha nó làm cho một đôi cánh nữa. Daedalus làm cho con một đôi rồi dạy con bay. Chàng dặn con: “Nghe lời cha dặn đây, con không được lơ đãng. Hãy khôn ngoan, đừng táo bạo. Bay ở đúng giữa khoảng trời và đất. Nếu con bay cao quá, mặt trời sẽ đốt cháy cánh con. Nếu con bay thấp quá, nước biển sẽ làm ướt cánh con. Cứ bay theo cha.” Chàng vừa buộc cánh cho con, vừa dặn dò nó. Tay chàng run run khi nghĩ tới cuộc mạo hiểm sắp tới. Tuy dặn dò con mà chàng vẫn còn lo. Trước khi cha con cất cánh, chàng hôn con mà nước mắt chảy đầm đìa. Chàng dặn con lần cuối: “Con phải nhớ lời cha và hãy bay gần cha!”.
Rồi chàng cất cánh. Icarus theo sau. Daedalus luôn luôn canh chừng con. Trời còn sớm, mới có ít người ra ngoài, nhưng cũng đã có vài bác nông phu và mấy người đánh cá nhìn thấy họ. Đám người chất phác đó nghĩ: “Chắc các thần thánh đây!”. Rồi họ vội cúi đầu kính cẩn.
Hai cha con chàng bay trên đại dương. Daedalus không còn lo lắng về con nữa vì thằng bé bay giỏi như chim. Hai đảo Delos và Paros lùi sau họ. Đảo Calymne có nhiều mật ong ở bên tay mặt họ. Giờ đây Icarus bắt đầu muốn trổ tài. Nó muốn bay vút lên rồi nhào xuống. Hồi hộp biết mấy khi vút lên thật cao rồi khép cánh lại nhào xuống nhanh như chớp rồi lại xoè cánh ra bay vút lên.
Icarus thử mấy lần, mỗi lần lại bay cao hơn. Rồi nó quên cả lời cha nó dặn mà bay tít lên thượng tầng. Thằng bé nghĩ: “Đại bàng cũng chả bay cao được thế này. Ta thật giống như vị thần sống ở thượng giới”. Nó vừa nghĩ tới đó thì thấy một giòng nước ấm chảy trên vai. Thì ra vì nó bay gần mặt trời quá nên lớp sáp phết dưới đôi cánh chảy ra. Nó cảm thấy người nó đang lao vút xuống. Sợ quá, nó kêu cứu: “Cha ơi, cứu con, con ngã này!”. Nó kêu cứu mà vẫn bị lao xuống mặt biển sâu thẳm và xanh biếc. Từ đó, vùng biển này được gọi là biển Icarian. Daedalus hốt hoảng gọi con, chàng nhìn tứ phía, rồi chàng nhìn xuống biển thấy từng đám lông chim bập bềnh trên ngọn sóng. Chàng biết rõ cơ sự rồi. Chàng đậu xuống một hòn đảo gần nhất. Chàng đấm ngực, rứt tóc, kêu gào khóc lóc :”Con ơi, Talus nó cũng ngã như thế đó. Thần thánh đã trả thù cho nó!”. Rồi chàng tháo cánh ra dẫm nát lên. Mấy ngày sau, xác Icarus giạt vào bờ. Daedalus chôn xác đứa con duy nhất trên đảo và từ đó đảo này mang tên Icarus.


THESEUS VÀ CON QUÁI VẬT ĐẦU BÒ MÌNH NGƯỜI ĐÔI DÉP VÀ THANH KIẾM.
Người cháu trai của vua Pittheus ở xứ Troezen sống trong lâu đài vua. Chàng tên là Theseus rất can đảm, khoẻ và đẹp trai. Thiên hạ thường nói về chàng “Sao mà chàng Theseus đẹp và cao quý thế? Không biết có phải thần Poseidon là cha chàng không?”
Chàng sung sướng khi nghe thiên hạ đồn chàng là con thần thánh. Sung sướng là phải vì như thế chàng sẽ giống người anh họ của chàng tên là Heracles. Theseus rất sủng mộ Heracles, người anh hùng mà đâu đâu cũng biết tiếng. Chàng thường tự nhủ:
“Ta sẽ giống Heracles, ta sẽ giết dã thú, những tên khổng lồ, cùng những kẻ xấu xa độc ác”. Nhưng chàng đã rất buồn khi hay biết được cha chàng không phải là thần thánh gì cả mà chính là vua Aegeus của thành Athens. Chàng vén được màn bí mật vì chuyện sau đây.
Những năm về trước, cứ đến ngày sinh nhật chàng, mẹ chàng là công chúa Aethra lại đem chàng ra tảng đá lớn rồi bảo chàng: “Con thử đẩy tảng đá này sang một bên đi”.
Lần nào chàng cũng cố hết sức nhưng không tài nào đẩy được. Đến ngày sinh nhật thứ 18, chàng đã đẩy được tảng đá. Dưới tảng đá là một cái lỗ, trong đó có một thanh kiếm chuôi vàng và một đôi dép thêu. Mẹ chàng nói : “Thanh kiếm và đôi dép này của cha con. Bây giờ là của con đấy. Hãy cầm lấy”.
Rồi mẹ chàng kể cho chàng nghe cuộc hôn nhân bí mật của mẹ chàng với vua Aegeus. Khi chia tay, cha chàng đã dặn mẹ chàng nếu sinh con trai thì khi con lớn lên, tất đẩy được tảng đá. Hãy bảo con đem hai vật dấu dưới là thanh kiếm và đôi dép tới thành Athens để nhận cha. Nghe xong, chàng Theseus lập tức đeo kiếm mang dép dự tính đi Athens ngay.
Nhưng vua Pittheus vội cản : “Để ông cho cháu một chiếc thuyền và đoàn tuỳ tùng vì đường nhiều cướp lắm.” Theseus không chịu nghe, chàng nói với ông: “Cháu sẽ đi bằng đường bộ. Anh Heracles cháu nổi tiếng khắp Hy Lạp. Còn cháu, cháu cũng phải ra tay giết cướp chứ.” Theseus nói mãi ông chàng đành chịu nghe. Thế là chàng lên đường một mình.
TRÊN ĐƯỜNG TỚI ATHENS
Chàng Theseus đang đi trên đường tâm trí mải mê nghĩ về thành Athens cùng những công việc lớn lao thì một tên cướp đường ẩn sau lùm cây vụt xuất hiện. Hắn choàng chiếc áo da gấu, tay cầm cái dùi bằng sắt. Hắn đứng chắn giữa đường, tay khua dùi sắt, miệng nạt nộ. Chàng Theseus cứ tiến bước. Chàng xông tới kẻ địch, hét: “Ta sở dĩ đi đường này chỉ cốt để giết lũ mi!” Qua vài hiệp, chàng đã giết được tên cướp. Chàng tước lấy cái dùi rồi đeo vào người. Chàng giết thêm được ba tên cướp đường nữa thì tới dòng sông Cephisus gần Athens. Tới đây, chàng gặp một tên vô lại thật nguy hiểm. Tên này ăn mặc bảnh bao nói năng lịch thiệp. Nếu không may thì chắc chàng đã chết về tên này rồi. Thấy chàng, tên đó mời ngay: “Xin mời ông khách quý tới tệ xá dùng bữa. Khách nào qua đây, tôi cũng nhất định xin mời như vậy”. Theseus vội từ chối:
“Cám ơn ông lắm, nhưng tôi hơi vội”. Nhưng tên kia cứ nắm lấy chàng lôi đi. Theseus không muốn làm buồn người hiếu khách nên bất đắc dĩ phải theo hắn về nhà. Khi ngồi vào bàn, có người gọi tên chủ vô phòng. Thừa dịp đó, tên bồi rót rượu vôi rỉ tai Theseus :”Này chàng trai trẻ, hãy trốn ngay khỏi nơi này đi! Chủ tôi là tên tối nguy hiểm. Ông ta sẽ bắt cậu ngủ ở chiếc giường sắt nổi tiếng của ông ta. Khi cậu ngủ say, ông ta sẽ trói chặt cậu vào giường. Nếu cậu cao quá mà nằm thừa chân, ông ta sẽ cắt chân cậu cho vừa. Nếu cậu thấp mà nằm còn dư giường thì ông ấy sẽ kéo dài chân cậu cho vừa cái giường mới thôi. Ông chủ tôi chính là Procrustes biệt hiệu là “người kéo co” đấy. Theseus không nói gì, chàng cầm ngay cái dùi sắt xông và bắt Procrustes nằm cho vừa cái giường của hắn.


THEUSEUS GẶP VUA CHA
Tin chàng anh hùng đang đi du lịch truyền thật nhanh. Vua Aegeus đã biết có một chàng trai can đảm đang từ Troezen du lịch tới Athens. Nhưng vua không ngờ đó chính là con ngài, cho nên vua lo lắng chờ đợi, vì thành Athens đang lúc lộn xộn mà vua thì lại không có con để nối dõi. Nhà vua nghĩ “Dân chúng dám phong hắn làm vua thay ta”.
Vợ của vua Aegeus không phải ai xa lạ mà chính là nàng Medea, người đã trả thù chàng Jason cay độc. Hồi đó nàng đã dùng xe rồng kéo chạy trốn tới Athens. Ở đây, nàng gây được ảnh hưởng lớn với vua Aegeus và vị vua lớn tuổi này cuối cùng chịu cưới nàng. Nàng dư biết Theseus là ai. Chính nàng cũng sợ chàng tới. Nàng nghĩ: “Khi đã có con bên cạnh, tất nhiên vua sẽ không nghe lời mình như cũ nữa”. Rồi nàng nói với vua: “Chúng ta hãy đầu độc tên Theseus đó, bởi tôi biết chắc rằng hắn tới để hại chúng ta”.
Khi Theseus tới nơi, vua tiếp đón lịch sự, tạm quên ý định xấu xa kia đi. Còn về phần Theseus thì chàng nóng lòng lắm. Chàng chỉ muốn nhận vua cha ngay nhưng chàng lại muốn chính vua cha nhận ra được chàng mà không cần bằng chứng. Cho nên chàng không tiết lộ gì vội và chỉ nhận sự tiếp đón của vua như những anh hùng khác.
Sáng hôm sau, Theseus ngồi vào bàn ăn cạnh vua cha. Trước mặt chàng là một ly rượu nho có pha thuốc độc. Theseus không để ý đến ly rượu mà chỉ hướng về vua cha. Chàng mỉm cười chờ đợi hy vọng được cha nhận ra. Nhưng vua chẳng tỏ dấu hiệu gì, chàng đành để thanh kiếm lên bàn. Nhà vua thốt kêu lên khi nhận ra thanh kiếm, vội với tay hất đổ ly rượu. Rồi vừa khóc, nhà vua vừa ôm chặt lấy con, nắn từng bắp thịt rắn chắc của chàng rồi hôn lên má chàng. Thấy cảnh đó, nàng Medea tự biết nàng chẳng còn gì mà ở đây nữa. Thế là một lần nữa, nàng lại dùng cỗ xe rồng kéo để ra đi.


CON QUÁI VẬT MINOTAUR
Vua Aegeus vừa được hưởng niềm vui nhận ra con thì người cũng lại nhận được tin buồn. Đó là tin từ Crete đưa tới đòi vua phải giữ lễ tế lần thứ ba sau mỗi chín năm.
Nguyên do vì trước kia con trai vua Minos ở Crete lên là Androgeos tới Athens dự giải thể thao. Chàng ta đã thắng tất cả các trận đấu. Vua Aegeus căm giận, cho mưu sát Androgeos. Thế là vua Minos gây chiến. Ông ta đem một đoàn chiến thuyền rất mạnh áp đảo Athens đến nỗi cuối cùng vua Aegeus phải chịu cầu hoà với bất cứ điều kiện nào. Và điều kiện thật cay nghiệt: đó là một lễ tế gồm bảy thanh niên và bay thiếu nữ mang tới dâng cho con quái vật Minotaur sống ở toà mê cung Labyrinth.
Theseus nhận thấy rằng dân thành Athens rất oán cha chàng về chuyện này. Thế là chàng xin đi. Vua Aegeus hoảng sợ, vội can: “Con đừng đi. Nạn nhân sẽ được chọn bằng cách bốc thăm. Hãy chờ chừng nào tới lượt con. Cha con mình mới gặp nhau mà!”
Nhưng Theseus cứng rắn như đá. Chàng nói: “Con cương quyết là một trong mười bốn nạn nhân”. Vua đành chịu. Và chàng cùng mười ba nạn nhân nữa xuống con tầu định mệnh. Vua cha khóc ngất. Chàng an ủi cha: “Xin cha đừng khóc lóc. Vạn sự do trời định. Có thể là con sẽ giết được con quái vật. Và chiếc tầu này sẽ quay về toàn vẹn. Nếu được vậy, cha sẽ hay tin từ xa mà. Con xin hứa nếu giết được quái vật Minotaur, con sẽ cho treo buồm trắng để thay những chiếc buồm đen tang tóc này”.
Thế rồi tầu ra khơi, hướng về Crete. Tới Cnossos, kinh đô của đảo Crete, dân đảo này đã đứng đầy đường để xem những nạn nhân thành Athens sắp sửa bị con Minotaur xé xác. Đám nạn nhân bị riễu cợt rồi đưa tới trước lâu đài vua. Mọi người trong lâu đài đổ ra xem, trong số đó có cả công chúa Ariadne, con gái vua Minos. Nàng chỉ để mắt nhìn một nạn nhân là chàng Theseus. Chàng ngẩng đầu cao, chân bước đều, mắt nhìn thẳng.
Nàng công chúa cảm thấy yêu chàng ngày. Nàng tự hứa : “Chàng không thể chết được!”
Tới đêm, công chúa Ariadne vội lẻn ra khỏi lâu đài, tới gặp đám nạn nhân. Nàng nói nhỏ với Theseus: “Tôi không phải là kẻ thù của chàng đâu. Tôi sẽ giúp chàng”. Nói đoạn nàng rút trong áo ra một thanh gươm sáng loáng, đặt vào tay chàng. Chàng vội cầm lấy dấu trong áo rồi nói: “Bây giờ thì mặc sức cho con Minotaur gào thét! Xin cám ơn nàng, mong rằng tôi được sống để trả ơn nàng!”. Thế là nàng công chúa ngỏ tình. Chàng cũng vội hứa sẽ cưới nàng làm vợ. Nàng say sưa nói: “Nhất định chúng ta sẽ lấy nhau. Nhưng còn điều này nữa, nếu không thì cây kiếm cũng đến thành vô dụng vì chàng sẽ không thể tìm được lối ra, đường đi quanh co lắm, mê chung Labyrinth này do chính một người ở quê chàng tên là Daedalus xây lên đấy. Bây giờ chàng hãy cầm lấy cuộn chỉ này, hãy buộc đầu chỉ ở cửa vào, đi đến đâu gỡ chỉ tới đó. Lúc trở ra chàng cứ cuộn chỉ vào là thấy lối.”
Thế rồi chàng anh hùng Theseus gặp con quái vật trong cùng thẳm mê cung Labyrinth. Chàng xông vào đánh con quái vật. Sau vài hiệp, chàng đã hạ được nó. Chàng bèn cuộn chỉ tìm đường ra. Không thể kể xiết nỗi vui sướng khi chàng gặp lại các bạn. Họ tíu tít bàn chuyện trở về. Rồi họ vội vã ra chỗ tàu đậu. Nơi đó nàng Ariadne đang lo lắng chờ đợi họ. Theseus mang theo Ariadne lên tàu rồi tất cả vội vã giương buồm lặng lẽ rời khỏi cảng. Dân Crete không hay biết gì cả vì bấy giờ còn rất sớm. Trên đường về mọi người tạm dừng lại ở đảo Naxos. Ariadne đã bị Theseus bỏ rơi trên đảo này vào lúc nàng còn thiêm thiếp giấc nồng. Tương truyền không phải Theseus cố tình bội bạc mà là vì trong giấc mơ chàng đã được thần Minerva truyền bảo hãy nên làm vậy*.
Chú thích: Hiện ở điện Vatican (Ý) có bức điêu khắc tuyệt hảo về nàng Ariadne vào lúc nàng đương thiêm thiếp giấc nồng trên đảo Naxos này. Và tại viện bảo tàng nghệ thuật Athenaeum ở Boston (Hoa Kỳ) có được bản sao.
Có chuyện kể tiếp rằng nàng Ariadne về sau phát điên cuồng mà chết trên bãi biển đảo Naxos. Nhưng cũng có chuyện kể rằng thần Bacchus, thần của đảo Naxos, đã kết duyên cùng nàng công chúa bất hạnh đó và có với nàng khá nhiều con.
Trở lại truyện vua Aegeus, trong suốt thời gian chờ đợi ở Athens , ngày nào nhà vua cũng trèo lên mỏm đá ngoài bờ biển, rõi mắt nhìn về phía đảo Crete. Sau cùng nhà vua chết lặng người khi nhìn thấy chiếc tàu với những cánh buồm đen. Vì quá vui sướng, chàng Theseus đã quên không cho thay buồm trắng! Đấng phụ vương đau khổ kêu gào: “Con ta đã chết, ta còn sống làm gì?” Đoạn gieo mình xuống biển tự vẫn. Từ đó biển này được đặt tên là biển Aegeus.


OEDIPUS
VUA BỊ GIẾT

Vua Laius cai trị xứ Thebes lo buồn lắm vì có lời sấm dạy rằng nhà vua sẽ bị giết bởi chính con trai của mình.
Vua đã cầu nguyện đêm ngày xin đừng có con. Nhưng thần thánh không nghe, hoàng hậu sinh hạ một hoàng tử. Sinh xong, vua và hoàng hậu bàn nhau : “Thà giết đứa con này đi còn hơn sau này để nó giết cha nó”.
Thế rồi vua Laius mới chọc thủng mắt cá chân đứa bé rồi xâu dây da buộc hai chân vào với nhau, đem thằng bé cho người chăn cừu, bảo người đó phải bỏ thằng bé vào vùng núi Cythaeron.
Người chăn cừu bế thằng bé đi. Nhưng người đó không nỡ làm theo lệnh vua, mới dấu diếm đem đứa bé đi gửi người anh cũng chăn cừu, nhưng là chăn cừu cho vua Polybus ở xứ Corinth. Đến lượt người chăn cừu này lại đem thằng bé cho vua Polybus vì nhà vua không có con. Vua Polybus cưng đứa bé như con đẻ và đặt tên là Oedipus – thằng bé chân xưng.
Oedipus lớn lên thành một chàng trai khoẻ, đẹp. Chàng tin chắc rằng vua Polybus là cha và hoàng hậu Merope là mẹ chàng. Nhưng một hôm ở tiệc rượu, một chàng trai ghen tức với Oedipus mới chế riễu chàng: “Anh tưởng anh thuộc dòng dõi vương giả đấy hả? Anh không phải là con đẻ của vua Polybus đâu!”
Oedipus không nói năng gì. Chàng buồn bã suốt ngày hôm đó. Cho tới sáng hôm sau, chàng nhất định gặp vua cha để hỏi sự thật. Vua cố gắng trấn an chàng, nhưng chàng vẫn ngờ vực. Cuối cùng chàng tự quyết định : “Ta sẽ tới Delphi hỏi thần Phoebus Apollo xem ta có thật là con đẻ của vua Polybus không”. Rồi chẳng nói gì với ai, chàng cứ thế lên đường.
Chàng sửng sốt khi nghe lời sấm dạy. Lời sấm không trả lời câu của chàng hỏi mà lại tuyên đoán một chuyện khủng khiếp : “Nhà ngươi sẽ giết cha rồi lấy mẹ”
Nghe xong chàng quyết tự nhủ:
“Không, không bao giờ ta làm vậy! Thôi tốt hơn hết ta đừng nên quay về gặp cha mẹ nữa.” Rồi chàng đi Boeotia.
Chàng vừa rời khỏi Delphi được một quãng thì tới ngã ba đường. Có một xe ngựa chở năm người đi tới phía chàng. Một người cao tóc hoa râm, một người đem tin, một người lái xe, còn hai người kia là quân hầu. Người đánh xe hét bảo chàng:
“Hãy dẹp sang bên, tên kia!” Chàng là hoàng tử, lại nóng tính, xưa nay chưa biết nhường lối cho ai, mới nổi cáu với tên đánh xe hỗn xược. Thấy thế ông già ngồi trên xe cầm chiếc gậy nhọn bổ vào đầu Oedipus. Thế là chàng nổi nóng. Chàng giơ cao chiếc gậy chàng vẫn cầm theo đập lại ông già khiến ông ta té nhào xuống. Sau đó chàng chống trọi với ba tên và giết chết cả ba. Còn một tên quân hầu thì chạy thoát.
Chàng Oedipus không bao giờ ngờ rằng một phần sấm truyền đã đúng. Vì ông già ngồi trong xe đó chính là vua Laius ở Thebes. Lúc đó vua đang trên đường tới Delphi để cầu thần Apollo. Vua chết ngay khi ngã xuống nên cũng không còn thì giờ để nghiệm rằng lời sấm dạy khi xưa mà vua hết sức tránh đã xảy ra thật.


CÂU ĐỐ CỦA CON QUÁI VẬT ĐẦU NGƯỜI MÌNH SƯ TỬ SPHINX

Ít lâu sau lại một tai họa nữa xảy đến cho xứ Thebes. Một con quái vật đầu người , mình sư tử chuyên ăn thịt những người đi qua mỏm đá , nơi nó ẩn . Con quái vật này học được một câu đố khó . Nó đem câu này đố tất cả những người đi qua . Ai không trả lời được – cho tới lúc đó chưa có ai trả lời được cả – bị nó xé ra từng mảnh ăn thịt.
Sau khi vua Laius bị giết , người em của hoàng hậu Jocasta tên là Creoh lên cai trị xứ Thebes. Nhưng từ khi con trai ông ta là nạn nhân của con Sphinx thì ông ta không còn thiết gì cai trị nữa . ông ta cho rao đi khắp nơi là hễ ai giết được con quái vật Sphinx thì sẽ làm vua xứ Thebes và lấy hoàng hậu Jocasta .
Tin loan ra vào đúng chàng Oedipus tới Thebes . Chàng tới bằng lối khác nên đã không gặp con Sphinx . Nghe tin này chàng tự nhủ : “ Lời sấm như vậy thì đời ta đâu có đáng sống gì ?” Thế là chàng xông đi tìm con quái vật . Chàng trông thấy nó từ xa . Không ngần ngại , chàng tiến lại gần , gọi to :” Hãy đố ta đi , ta sẽ cố gắng trả lời !” Con quái vật đố ngay :
“ Con vật nào buổi sáng đi bằng bốn chân , buổi trưa đi hai chân , buổi chiều đi ba chân ?”
Oedipus trả lời liền : “ Người ta ! Buổi sáng là khi còn nhỏ , người bò bằng cả hai chân hai tay ; buổi trưa , khoảng giữa của cuộc đời , người đi bằng hai chân ; buổi chiều tức là khi già yếu, người phải chống thêm một cái gậy để đi , đó là cái chân thứ ba . “ Nghe xong con quái vật kêu thét lên và nhào xuống đất chết nát thây.
Thế là Oedipus lên ngôi vua xứ Thebes và lấy hoàng hậu Jocasta . Lời sấm đúng hoàn toàn : chàng đã lấy mẹ !


ÔNG THẦY BÓI MÙ TIRESIAS

Đã bao năm qua đi ! Vua Oedipus sinh được bốn con , hai trai hai gái . Vua vừa giàu, vừa nổi tiếng và được mọi người kính trọng . Xứ Thebes thịnh vượng hơn bao giờ . Không ai nghĩ tới vua Laius nữa và cái chết của ông vẫn trong vòng bí mật .
Nhưng giờ đây thành Thebes lại gặp nạn , một bệnh dịch đang lan tràn dữ dội , già trẻ chết như rạ . Cây cối bị trùng ăn chết rụi . Ngoài đồng cỏ , những đàn cừu bị đói rồi bị bỏ hoang . Cả thành phố ngát mùi nến hương cùng tiếng cầu nguyện vang lên xen lẫn với tiếng than khóc đau thương .
Các thầy tu bèn tâu với vua Oedipus : “Chắc chắn đây là hình phạt một tội nặng . Ngài hãy sai người đi Delphi hỏi thần Apollo xem sự thể ra sao.”
Oedipus nghe lời , bèn sai em vợ là Creon đi Delphi. Creon trở về với câu trả lời của thần Apollo : “ Một kẻ tội lỗi đang ở trên đất này . Kẻ giết vua Laius phải được tìm thấy để nhận sự trả thù”. Nghe xong vua Oedipus tuyên bố :” Ta sẽ cố để tìm cho ra kẻ sát nhân đó .” Rồi nhà vua mới hỏi cặn kẽ việc cũ . Vua hỏi Creon : “ Sao ngay hồi đó không tìm cho ra kẻ sát nhân ?” Creon trả lời :” Vì con quái vật Sphinx đã làm chúng tôi quên hết cả . Hồi đó chúng tôi chỉ lo tìm cách trừ quái vật Sphinx thôi .”
Oedipus nói :” Tôi sẽ bắt đầu lại từ đầu .” Rồi vua nói với quân dân :” Ai biết được tên sát nhân, hãy cho ta biết. Đừng sợ hãi gì, vì tên đó chỉ bị đuổi khỏi xứ thôi. Còn nếu biết mà dấu diếm , ta sẽ trừng trị nặng. Ta cấm mọi người không được chứa chấp tên đó , cũng không được cho hắn dự lễ cầu nguyện hay lễ tế. Ta long trọng hứa một lần nữa rằng hễ bắt được tên sát nhân đó , ta chỉ đuổi hắn ra khỏi xứ thôi . Và ngay với chính ta đây , nếu ta biết được , dù đó là người thân , ta cũng sẽ xử y như vậy.”
Nghe xong , một người dân lên tiếng :” Thần Phoebus có thể cho chúng ta biết kẻ giết người kia !”
Oedipus trả lời :” Nhưng không ai buộc được thần thánh phải nói.”
“ Vậy thì hãy hỏi ông thầy bói mù Tiresias.”
Oedipus trả lời :” Ta đã cho gọi hai lần , nhưng sao ông ta chưa tới .”
Nhà vua vừa dứt lời thì một thằng bé dắt người thầy bói tới. Nhà vua bèn hỏi ngay về câu trả lời của thần Apollo . Vua khích lệ người thầy bói mù :” Hãy dùng hết quyền phép vén màn bí mật lên. Hãy cứu cả thành phố , cả tôi , cả chúng ta. Vì tất cả hiện trông cậy ở ngươi.”
Tiresias nói : “ Nếu thế thì hãy để tôi về . Tốt hơn hết xin đưa tôi về .”
Oedipus vội kêu lên: ”Vì lòng kính mến thánh thần , xin đừng làm ngơ nếu người biết rõ sự thật!”
Nhưng người thầy bói mù không chịu tiết lộ, ông ta nói :” Rồi tương lai sẽ trả lời .”
Tới đây vua Oedipus nổi giận dọa nạt. Vậy mà cũng không lay chuyển nổi Tiresias. Bấy giờ vua mới nói trắng ra :” Tôi nghĩ sao nói vậy , ông có vẻ như đã nhúng tay vào vụ giết người đó . Nếu ông tinh mắt , thì tôi đã đoán chắc rằng chính ông là thủ phạm.”
Đến đây thì Tiresias không nhịn được nữa, bèn nói :” Ngài nghĩ vậy ư ? Thì đây , theo lệnh ngài , tôi xin nói sự thật : Chính ngài là thủ phạm ! Hiện ngài đang ăn ở với người thân nhất của ngài!”
Oedipus điếng người , và chỉ còn biết giải lời kết tội đó bằng một đường duy nhất :
“Rõ ràng ngươi mù cả mắt lẫn tâm trí , ngươi đã nhận tiền của Creon để xua ta xuống ngôi .”
Tiresias bèn đáp lại: ”Dù ông là vua , tôi cũng có quyền trả lời . Xin nói để ông nghe đây : ông chế riễu sự mù loà của tôi, ông đâu biết có mắt như ông mà chẳng nhìn thấy sự khổ hạnh của chính mình, chẳng biết đang sống ở đâu , đang sống với ai. Tất cả Cithaeron sắp vang lên tiếng kêu của ông khi ông hay biết cuộc hôn nhân của mình . Cứ việc rủa tôi và Creon đi , nhưng rồi sẽ không ai khốn khổ bằng ông. Giờ đây ông sáng mắt , sau đây ông sẽ mù , giờ đây ông giàu có , sau đây ông sẽ là kẻ ăn mày , ông sẽ chống gậy dò dẫm bỏ xứ mà đi .” Nói xong những lời cay đắng , Tiresias bỏ đi.


MÀN BÍ MẬT ĐƯỢC VÉN LÊN
Hay tin bị Oedipus kết tội, Creon vội chạy tới minh oan . Nhưng Oedipus nhất định không tin , và dọa sẽ đuổi Creon ra khỏi xứ , có thể sẽ giết Creon nữa. Nếu hoàng hậu Jocasta không kịp cản ngăn thì chắc Oedipus đã làm thật. Jocasta hỏi Oedipus vì sao có cuộc cãi cọ này. Oedipus trả lời : “ Hắn nói rằng trẫm có tội trong vụ giết vua Laius và xúi tên Tiresias kết tội trẫm.”
Jocasta vội khuyên: ”Hãy bình tâm , bệ hạ dư biết bọn thầy bói mù đâu biết gì. Đã có lần sấm dạy Laius rằng ông ấy sẽ chết về tay chính người con trai. Nhưng khi tôi sanh đứa bé ra, Laius đã ghim chân đứa nhỏ rồi sai ném xuống triền núi rồi . Sau ông ấy bị quân cướp giết ở ngã ba đường đấy chứ . Vậy lời sấm có đúng đâu “. Nghe tới đó , tim Oedipus muốn ngừng đập. Vua vội hỏi lại: ” Laius bị giết chỗ ngã ba ư ; Ở đâu ? Hồi nào ?”
Jocasta trả lời: ”Chỗ đó gọi Phocis, đường đi Delphi và Daulia gặp nhau ở đấy. Chuyện đó xảy ra ít lâu trước khi bệ hạ trị vì xứ này “.
Oedipus kêu lên: ”Hỡi thần Zeus, ngài đã truyền con làm gì ?” Jocasta lấy làm lo lắng hỏi: “Sao chuyện này khiến bệ hạ buồn lo quá vậy”
- “Thôi đừng hỏi ta nữa. Hãy cho ta biết Laius cao bao nhiêu và bao nhiêu tuổi?”
- Ông ấy cao, tóc đã ngả bạc, vóc dáng không khác bệ hạ là mấy.
- “Hãy nói thêm một điều nữa. Có phải ông ấy đi với những người có mang khí giới phải không?”
- “Phải, tất cả năm người.”
- “Thế ai mang tin về cho nàng?”
- “ Một tên hầu, tên duy nhất sống sót.”
- “Hãy gọi hắn tới đây”.
- “Rồi hắn sẽ tới. Nhưng thiếp muốn biết điều gì đã khiến bệ hạ lo buồn quá vậy?”
Oedipus mới kể cho hoàng hậu nghe chuyện Oedipus đi Delphi hỏi thần Apollo xem cha mình là ai, đã nhận lời sấm như thế nào và đã gặp năm người trên cỗ xe, rồi giết chết bốn chỉ còn một người chạy thoát. Oedipus nói tiếp :
“Nếu quả người đó là vua Laius, thì còn ai khốn nạn hơn người đứng trước mặt nàng? Liệu trên đời này còn ai đáng ghét hơn? Rồi tôi lại lấy vợ của người tôi đã giết. Tôi sẽ bị đày ải. Tôi sẽ không thể trở về với cha mẹ tôi trừ phi tôi phải giết cha tôi là vua Polybus và lấy mẹ tôi là hoàng hậu Merope”.
Oedipus vẫn chưa nhìn ra sự thật. Chàng vẫn còn bám víu vào hy vọng rằng có lẽ chàng không giết vua Laius. Chàng nói: “Kẻ trốn thoát kể rằng vua Laius bị cướp giết. Nếu tới đây hắn cũng nói thế, thì chắc không phải tôi rồi.”
Jocasta lại an ủi Oedipus: “Bệ hạ hãy an tâm. Hắn không nói khác đâu. Cả tỉnh đã nghe chuyện đó, không phải một mình thiếp”.
Đúng lúc này, một sứ giả từ Corinth tới báo tin vua Polybus đã chết, dân chúng muốn tôn Oedipus lên nối ngôi.
Nghe tin, hoàng hậu Jocasta vui mừng bảo đám nữ tỳ: “Các ngươi hãy đi thật nhanh báo cho đức vua biết tin này. Giờ đây ngài sẽ thấy lời sấm nào có đáng tin! Polybus là người mà ngài cứ sợ phải giết thì giờ đã chết tự nhiên”.
Oedipus quả thật có nhẹ nhõm cả người khi nghe tin vua Polybus chết vì bệnh già.
Nhưng Oedipus vẫn còn ngờ vực và vẫn sợ về Corinth vì còn hoàng hậu Merope. Lời sấm chẳng đã tiên tri chàng phải cưới mẹ ư?
Biết vậy, người sứ giả mới nói với Oedipus: “Vì sợ thế mà ngài đã phải rời khỏi xứ Corinth ư? Vậy xin ngài khỏi phải sợ hãi gì nữa. Vua Polybus không có liên hệ máu mủ gì với ngài hết. Ông ấy không phải là cha ngài. Chính tôi đã đem ngài biếu ông ấy. Chính tôi đã cứu ngài, đã cởi dây xâu qua mắt cá chân ngài.”
Oedipus còn kinh ngạc khi hay người này đã nhận chàng từ tay một người chăn cừu khác (người đó là đầy tớ của vua Laius) mới vội hỏi rằng: “Người đó còn sống không? Tôi có thể gặp người đó được không?”
- “Được chứ. Người đó chính là người nhà quê mà ngài đã sai gọi. Nhưng hoàng hậu Jocasta đây sẽ kể được rõ hơn ai hết.”
Hoàng hậu bấy giờ đứng che mặt, vì biết hết sự thật rồi.
Bà lắp bắp nói: “Thôi xin đừng hỏi gì nữa, cũng đừng suy nghĩ gì nữa. Nếu ngài còn nghĩ đến cuộc đời của ngài xin đừng tìm hiểu nữa! Nỗi đau khổ của tôi quá đủ rồi.”
Oedipus còn an ủi hoàng hậu :
“Hãy can đảm lên! Cho dù rằng sự thật tôi có là con một người nhà quê, thì nàng cũng đâu có phải thuộc giòng hạ tiện!” (Oedipus nói vậy vì hiểu lầm sự đau khổ của Jocasta)
Jocasta kêu than: “Xin đừng tìm hiểu ngài là ai nữa! Tôi chỉ biết nói thế thôi, không thể nói hơn được nữa”. Rồi bà chạy như điên dại vào lâu đài. Bà Jocasta vừa đi khỏi thì người chăn cừu tới. Oedipus quay sang người sứ giả hỏi trước: “Đây có phải người mà nhà ngươi nói không?”
- “Dạ chính phải”.
Rồi Oedipus quay sang hỏi người chăn cừu. Chàng hỏi cho đến khi biết rõ sự thật. Chàng rên xiết : “Trời ơi! Tất cả đã trôi qua hết và tất cả đều đúng! Hỡi ánh sáng, ta nhìn mi lần cuối. Ta đã có tội khi sinh ra, có tội khi lấy vợ, và có tội khi tay nhuốm máu!”
Nói đoạn chàng chạy như điên vào lâu đài. Đám người ở ngoài đang sợ hãi thì một người trong lâu đài chạy ra loan tin:
“Hoàng hậu Jocasta đã chết.”
Vua mở cửa phòng đã thấy bà đã treo cổ tự tử. Vua vừa nức nở khóc vừa đỡ bà xuống. Đặt bà nằm xuống, vua Oedipus mới lấy chiếc trâm của bà đâm vào mắt r